Welcome to Người Việt Năm Châu. Chúc tất cả Anh Chị Em một ngày b́nh yên, may mắn và hạnh phúc... XIN ĐỪNG QUÊN: Hơn 80 triệu đồng bào VN đang bị nhốt trong cái nhà tù lớn mệnh danh XHCNVN của lũ quốc tặc Việt cộng ...

Trang Chính Diễn Đàn About NVNC Một Góc Phố Một Góc Phố US MGP phpBB Lư Lạc Long
Pḥng Phát Thanh VietKey Online NVNC Làm Quen Cyber Cafe Văn Học Nghệ Thuật Xă Hội Tin Tức Thời Sự
Go Back   NGƯỜI VIỆT NĂM CHÂU > 2. VĂN HỌC > Kư Ức Về 1 Quê Hương > BÀI VỞ PHÁT THANH 30/4/2009 > Phóng sự, Tin tức (trước và sau 30/4)
FAQ Members List Calendar Mark Forums Read

Phóng sự, Tin tức (trước và sau 30/4) Nói về sự oai hùng lẫn đau thuơng của ngày 30-4 từ quân sự lẫn dân sự ...

Reply
 
Thread Tools
  #1  
Old 03-16-2009, 09:23 PM
T́nh Quê's Avatar
T́nh Quê T́nh Quê is offline
Người khách #2 của 2008 (top posters)
 
Join Date: Dec 2007
Posts: 1,275
Thanks: 0
Thanked 4 Times in 4 Posts
Default Những chuyện không quên trước năm 75!

CỐ ĐÔ KINH HOÀNG!
Tác giả: Elje Vannema

Mới sáng tinh sương đă thấy quân Mặt Trận (Giải Phóng Miền Nam) hiện diện trong thành phố. Họ là những người lo mặt chính trị trong cuộc chiếm cứ. Ngày hôm trước, họ vào sổ gần hết mọi người, ghi tên, tuổi, phái tính. Họ quan tâm đặc biệt đối với phái nam, chia những người này ra thành nhiều nhóm: công chức, những người có liên hệ với quân đội cộng ḥa, và những kẻ khác. Nhiều trường hợp họ ghi chú đầy đủ cả gia đ́nh, cả tên con cái nữa. Mỗi nhóm họ chỉ định một người đại diện, mang trách nhiệm mọi mặt về tất cả thành viên trong nhóm. Nếu có người thoát th́ người đại diện phải lănh đủ. Dân chúng được lệnh không tụ họp đông người, trừ khi được kêu đi dự mít tinh, không được nghe đài, không được phao tin đồn đăi...

Ngày hôm sau, du kích và nằm vùng địa phương tỏa ra đi t́m những người có tên trong danh sách viết tay nguệch ngoạc. Họ được đưa về Tiểu chủng viện, nơi dựng ṭa án nhân dân. Một anh cựu sinh viên chủ tọa phiên ṭa với sự hiện diện của một người Bắc Việt và hai sinh viên khác. Hai sinh viên này chúng tôi biết...

Các phiên ṭa nhân dân mấy ngày trước đă chấm dứt. Dân chúng hiện diện khá đông tại các phiên ṭa ở Tiểu chủng viện, ở Gia Hội bên kia cầu và ở trong thành. Ṭa án ở Tiểu chủng viện do Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ tŕ. Anh này tốt nghiệp đại học Huế và là cựu lănh tụ sinh viên trong Ủy Ban Phật Giáo chống chính quyền trước đây. Cầm đầu ở Gia Hội là Nguyễn Đắc Xuân, trước kia là một liên lạc viên cộng sản nay đột nhiên lại xuất hiện. Ṭa trong thành do hai sinh viên Nguyễn Đọc và Nguyễn Thị Đoan điều khiển. Các phiên ṭa vang lên những lời đe dọa với khẩu hiệu tuyên truyền, kết tội, qui chụp. Hầu hết những người bị lôi ra ṭa chẳng biết lư do ḿnh bị bắt. Nhưng tất cả đều bị kết tội, một số bị tử h́nh tức khắc.

Sau hai ngày phiên ṭa kết thúc, nhường chỗ cho những công tác khủng bố dân chúng khác. Một người trộm mở nghe đài (radio) bị bắn giữa thanh thiên bạch nhật để làm gương. Một anh sinh viên không tới dự lớp học tập cũng bị bắn công khai. Nguyễn Đọc bắn nhiều người trong đó có người bạn thân đồng lớp là Mu Ty, chỉ v́ bạn không chịu hợp tác với y. Bước vào ngày thứ hai bắt đầu kiểm soát lương thực, thực phẩm.

Ngày thứ bốn, v́ không tuân hành lệnh cách mạng, một gia đ́nh bị xử. Người chủ gia đ́nh bị bắn tức khắc. Dưới áp lực khủng bố gia tăng nhiều người bỏ trốn, nhưng ít kẻ thoát. Vùng Gia Hội có nhiều người thoát hơn nhờ ban đêm chèo bè qua sông sang làng Đập Đá. Thường bị bắn theo nhưng cố chèo.

Những người nằm vùng xuất đầu lộ diện, ra tay truy lùng nạn nhân. Bộ đội Bắc Việt và quân chính quy Mặt Trận lo chuyện quân sự và chiến lược. Nằm vùng địa phương lo việc chính trị, hành chính, b́nh định, tuyên truyền, và tiêu diệt kẻ thù. Đám này bắt và giết người bất kể, nhiều khi chỉ v́ hiềm thù cá nhân. Cán bộ miền Bắc có mặt ở ṭa án nhân dân xem ra ít nắm vững chuyện chính trị và đóng vai tṛ ít quan trọng trong các bản án. Địa phương quyết định mọi chuyện. Trước khi lên danh sách, thường đám nằm vùng đă quyết định bắt ai rồi. Chỉ c̣n việc ra lệnh thanh toán những ai họ nhắm nữa mà thôi. Có lẽ họ lư luận rằng, thà giết lầm hơn bỏ sót, v́ bỏ sót th́ sau này ḿnh sẽ bị nhận diện. Một cách hệ thống, công chức, quân nhân, sinh viên có tinh thần quốc gia, có khả năng lănh đạo và có thể gây trở ngại cho cách mạng, chính trị gia đối lập, tất thảy đều được đoái hoài. Danh sách bất tận.

Dân chúng tập trung ở nhà thờ chính ṭa được lệnh vào bên trong, không ai được đứng bên ngoài. Phụ nữ và trẻ con được lệnh ngồi xuống. Đàn ông và thiếu niên từ 15 tuổi trở lên đứng. Ở bệnh viện, tṛ tương tự cũng đă diễn ra. Dân quanh vùng, đặc biệt là vùng quanh căn cứ Mỹ, được lệnh tập trung vào bệnh viện v́ cộng sản sợ giao tranh có thể xảy ra ở đó. Dân lúc này c̣n sợ súng máy và hỏa tiễn trực thăng hơn quân chiếm đóng nên ngoan ngoăn làm theo lệnh. Sau ba ngày, đàn bà con nít được lệnh ngồi, đàn ông đứng dậy để hai tên nằm vùng nhận diện, trước mặt hai cán bộ miền Bắc và hai bộ đội Mặt Trận. Hai người nằm vùng này mới được xổ tù khi Việt cộng chiếm thành phố. Cả hai đều là thành viên kỳ cựu của Mặt Trận. Một số người, trẻ có già có, được cấp thẻ và dẫn về nhà thờ chính ṭa.



Bên trong nhà thờ đàn ông và thiếu niên được lệnh sắp thành hàng rồi bước ra ngoài với cán bộ hộ tống. Từ nhà thờ họ băng qua các đường Phủ Cam lên Chùa Từ Đàm. Bị giữ ở đấy một ngày rồi lại tiếp tục đi về phía Nam, hướng Nam Giao. Đàn bà trẻ con nhao lên nhưng được trấn an rằng cha, chồng, con họ phải ra phục dịch bên ngoài thành. Một số bà đi theo xa xa, nhưng rồi bị chặn lại. Trong số người ra đi có anh lính trẻ cộng ḥa và Lương (nhân vật kể lại câu chuyện này) Ngày kế tiếp, cuộc hành tŕnh kéo dài suốt chiều tới tối, thoạt tiên rời Từ Đàm đi về hướng Nam rồi bẻ hướng Đông Nam. Sáu cây số đường đi mà Lương nghĩ là một cuộc trường chinh. Không ai nói với ai. Chỉ một lần yên lặng bị cắt đứt bởi một câu hỏi của ai đó "Ta đi mô đây". Có tiếng phụ họa "Lên núi hay tới chỗ chết?".

Bộ đội Mặt Trận nói là họ được đưa đi học tập. Không ai biết ḿnh đi đâu nhưng tự thâm tâm nhiều người tin rằng có lẽ đời ḿnh sắp kết thúc. Ông già đi bên cạnh Lương bổng ngă quỵ. Cho tới lúc đó anh không biết có ông già đi bên ḿnh. "Bắt gió cho ông ta " tiếng ai đó vang lên... Lương ôm lấy ông cho tới khi người canh gác tới.

Mắt ông già hé mở trong chiều xẩm tối. Tiếng nói lạc giọng thều thào. "Xin để tui đi, để tui ở lại đây", ông van xin, bàn tay xương xẩu níu lấy cánh tay người gác. "Tui không đi xa hơn được nữa".

"Đứng dậy ".

Ông già gượng dậy, cố thẳng người thêm được vài bước rồi lại ngă. Người gác đoàn lúc này hết kiên nhẫn, đạp ông ra lề đường rồi bỏ đi. Vài phút sau, một phát súng xé không khí cùng với một tiếng kêu yếu ớt vang lên. Làm thế để chắc ăn, không ai chứng kiến. Xác ông được dập vào một hố gần đó, hai tù nhân được lệnh lấp đất. Một tháng sau xác ông được đồng bào khám phá.

Vô vọng, đoàn người bước đi càng lúc càng chậm, câm lặng uất nén. Người gác càng hối thúc. Rồi có tiếng hô "Dừng lại ". Lương thấy đám người phía trước được lệnh bỏ túi xách xuống và ngồi xuống. Họ đă tới đích. Đám canh gác phía sau miệng hét thúc kẻ này đi nhanh, chân đá vào sườn kẻ khác... Sau này, Lương nhớ lại ḿnh đă đi qua thôn Tu Tay. Theo anh, chừng 18 người đă bị kêu lên phía trước và bị quân Mặt Trận tố có tội ác với nhân dân. Các nạn nhân bị lôi đi ngay. Chả ai biết ǵ về số phận họ v́ chẳng bao giờ gặp lại họ nữa. Những người khác được lệnh đi về phía lăng Đồng Khánh.

Sau một giờ đi họ lại được lệnh dừng, chia thành hai nhóm nhỏ và bắt đầu được lệnh đào hầm rănh. Họ đào mồ cho lớp người tới sau, chứ chính họ th́ chỉ vài mạng phải nằm ở đây mà thôi. Như một ác mộng kinh hoàng thăm viếng địa cầu, nhưng ác mộng không do quỷ ma nào cả mà do chính con người tạo ra.

Thoạt tiên, Lương nghĩ chắc ḿnh sẽ không qua khỏi. Dù vậy, anh và người lính trẻ vẫn cố t́m cách thoát thân, trong một hoàn cảnh có thể nói là tuyệt vọng. Hai người thất thần nh́n nhau, mắt mở lớn. Chung quanh Lương, đám người đói, lạnh, có kẻ đau, không ai dám quay về nh́n thành phố thân yêu đổ nát đang ch́m trong bóng tối sau lưng họ. Họ đào đă hai, ba tiếng, ai nấy im lặng gặm nhấm suy nghĩ của ḿnh. Hố đào là để trú ẩn và làm mương dẫn nước, người ta nói thế. Một tiếng nổ kèm với tiếng la vang lên. Thần chết vây bủa không gian. Tại sao ḿnh ở đây? Đa số họ là công giáo, chả ai quan tâm tới chính trị, một số do hoàn cảnh lịch sử phải bước vào lính như bao nhiêu thanh niên Việt Nam và trên khắp thế giới đến tuổi khác.

Sau khi đào xong một hố rănh, đám đông được lệnh đi tới một đụn cát để nghỉ đêm. Vài người bị dẫn đi. Một số la thét lên v́ sợ. Lương thấy người bạn ở cùng phố mà anh quen từ mấy năm nay bật khóc nức nở. Một người hoảng lên chạy quẩn để rồi bị bắt giữ lại. Lương hoảng hốt. Chân anh như điện giật. Anh nghĩ phải liều ngay. Chung quanh cán bộ gác đầy dẫy, nhưng nếu lao vào được bóng tối th́ có cơ thoát. Ác mộng tiếp tục. Người la. Kẻ bị đánh. Người rú lên cười kinh hoàng. Lương ở trong một đám khá đông đang bước đi. Đám người khập khễnh lê lết xuyên qua một đám cây rậm đi xuống đụn cát phía Nam. Khi họ xuống đồi, Lương lách người lao vào bóng tối. Một viên đạn rít bên tai. Anh phóng qua đám rừng, tai vẫn nghe tiếng đạn và tiếng la hét. Chỉ vài phút anh tới một con suối và chạy theo ḍng nước hướng về phía Đông. Anh đi suốt đêm, thỉnh thoảng bị khuất động bởi trái sáng thả từ máy bay và tiếng đại bác. Sáng ra thấy ḿnh băng qua một con đường sắt. Từ đó tiếp tục đi tới quốc lộ, ḷng mong ngóng sớm thoát được vùng tử địa. Xế chiều anh tới con đường phía Nam cách Phú Bài mấy dặm. Mải tới ngày 16 tháng 2 Lương mới về lại được thành và kể cho chị Kim những ǵ đă xảy ra...

Người ta đoán rằng đám nạn nhân từ Phú Cam tiếp tục đi nhiều ngày nữa về hướng Nam, xuyên qua một vùng cây cối khó đi. Mải tới trung tuần tháng 9.69 người ta mới t́m thấy xác họ trong một con suối nhỏ, khe Đá Mài, con suối chảy ra khe Đại đổ vào sông Hương... Trong số 428 bộ cốt t́m được ở đó, rất ít được nhận diện. V́ không t́m thấy ở đâu khác, gia đ́nh họ Nguyễn (thân nhân người lính trẻ) tin rằng con ḿnh đă chấm dứt cuộc đời nơi khe suối này...

Nguyễn Đắc Xuân Mồ Tập Thể

Mồ tập thể được khám phá đầu tiên ở trường trung học quận Gia Hội, nằm bên cạnh khu dân cư. Sở dĩ cư dân gần đó biết được là v́ họ nghe tiếng súng và biết ở đó có mở ṭa án nhân dân. Một số người sau khi tham dự phiên ṭa đầu tiên đă liều trốn và may mắn thoát. Một số khác nhờ bơi qua sông. Trước ngôi trường có tất cả 14 hố gồm 101 tử thi. Sau ba ngày t́m kiếm, người ta khám phá thêm một số hố rải rác trước, sau và bên hông trường, nâng tổng số tử thi lên 203, gồm xác thanh niên, người già và phụ nữ.

Trong số xác trẻ có 18 sinh viên. Một số trong bọn họ là những sinh viên đă bỏ vô bưng theo Mặt Trận sau vụ đấu tranh chống chính quyền, nay trở về bắt các sinh viên khác theo họ. Khi Mặt Trận chuẩn bị rút, các sinh viên được phép chọn hoặc vô bưng hoặc ở lại thành. Kẻ chọn ở lại bị giết và chôn tại trường. Những sinh viên khác của Gia Hội không theo Mặt Trận cũng chịu chung số phận. Có hố vừa chôn được hai hoặc ba tuần; số c̣n lại rất mới. Những xác đầu tiên được lính Thủy Quân Lục Chiến Cộng Ḥa khám phá ngày 26.02.1968.

Trong số nạn nhân có cô Hoàng Thị Tam Tuy (các tên riêng và địa danh nào không đoán được sẽ ghi lại đúng như tác giả đă ghi - Người dịch), 26 tuổi, rất xinh, bán hàng ở chợ, nhà tại đường Tô Hiến Thành, Gia Hội. Bị quân Mặt Trận, theo lời kể của chị/em cô, vào nhà bắt đi đưa vào trường điều tra ngày 22 tháng 2, rồi chẳng thấy trở về. Xác cô chân tay bị trói, miệng nhét đầy giẻ; ḿnh mẩy không thấy một vết thương nào. Xác cô nằm chung với bốn nạn nhân khác, mà hai trong số đó có bà con với chị/em dâu cô. Trong số các nạn nhân khác có bà góa Dương Thi Co, 55 tuổi, nghề bán guốc, 4 con. Bị bắt tại nhà ngày 22.02, đưa vào trường Gia Hội và bắn chết. Xác bà được các con nhận diện ngày 26.02. Người thứ ba là Lê Văn Thắng, 21 tuổi sinh viên ở Gia Hội. Anh bị bắt đi tham dự lớp huấn luyện ngày 14.02. Xác được gia đ́nh phát hiện và nhận diện ngày 16.03, chung hố với hai nạn nhân khác trong khuôn viên trường.

Người thứ tư là Trần Đ́nh Trọng, sinh viên kỹ thuật và mới lập gia đ́nh. Bị bắt ngày 06.02, t́m thấy xác ngày 26.02. Người thứ năm Nguyễn Văn Dong, cảnh sát 42 tuổi, bị bắt ngày 17.02 ở nhà một người quen và bị chôn sống, tay trói tại trường Gia Hội. T́m thấy xác ngày 26.02. Người thứ sáu là Lê Văn Phú, 47 tuổi, cảnh sát. Bị bắt tại gia ngày 08.02. Vợ con van xin Mặt Trận cho phép chồng ở lại nhà, nhưng tối hôm đó bị hành quyết, bị bắn vào đầu, xác t́m thấy ngày 26.02, ở khuôn viên trường. Người thứ bảy, bà Nguyễn Thi Lao, buôn thúng bán bưng, 48 tuổi. Bị bắt trên đường lộ. Xác t́m thấy ở trường học, tay bị trói, miệng nhét đầy giẻ; ḿnh mẩy không bị một vết thương nào. Có lẽ bà bị chôn sống. Những xác khác t́m thấy gồm một đại úy cộng ḥa, hai trung úy, ba trung sĩ và mấy viên chức hành chánh. Bốn xác người của Mặt Trận.

Vùng mồ lớn thứ hai được khám phá gồm 12 hố với 43 tử thi ở Chùa Theravada, thường gọi là Tăng Quang Tự.

Vùng thứ ba tại Băi Dâu với 3 hố, 26 xác. Trong số nạn nhân ở Chùa có ông Phan Ban Soan, 60 tuổi, sinh tại Phú Vang, Thừa Thiên, nhà ở đường Tô Hiến Thành, có gia đ́nh, 5 con. Ông Soan làm nghề thợ may, trước có tham gia vụ Phật giáo chống tổng thống Diệm. Năm 1961 bị bắt v́ chống chính quyền, được thả năm 1967. Bị Việt cộng bắt đi tối 12.02 trên đường Chi Lăng, Gia Hội. Cộng sản phân công ông chôn xác chết và phân phối gạo. Xác ông tay bị trói, bị bắn xuyên đầu, dập cùng hố với 7 người khác.

Một người khác t́m thấy ở Chùa là ông Đặng Cơ, 46 tuổi, nghề thầu khoán, bị bắt tại gia ngày 06.02, t́m thấy xác ngày 26.02. Một người khác nữa là ông Ngô Thông, 66 tuổi, nhân viên hành chánh hồi hưu, bị bắt ngày 08.02, xác dập chung với 10 người khác. Một số tử thi có vết thương, một số tay bị trói giật cánh khỉ bằng dây thép gai, và một số miệng bị nhét giẻ.

Lần đầu tiên nói chuyện với đồng bào trong vùng tôi tưởng chỉ có 16 xác ở Chùa và 3 xác khác ở Băi Dâu. Nhưng bên hông và sau Băi Dâu có nhiều hố chôn. Tất cả ở đây chết v́ bị trả thù. Một vài người là thành viên Mặt Trận nhưng bị giết v́ muốn ở lại thành. Họ đều là dân Gia Hội. Bốn tháng sau, tháng 08.68, tôi trở lại đây để t́m hiểu thêm uẩn khúc của những cái chết. Thân nhân các nạn nhân lẫn dân địa phương đều xác nhận những điểm trên.

Tiết lộ về "mồ chôn tập thể" đầu tiên của chính quyền miền Nam là vào ngày 28.02.68, khi phát ngôn nhân chính phủ cho biết về một hầm "ghê gớm ở Cồn Hến gồm 100 xác công chức và quân nhân bị bắt khoảng đầu tháng". Cũng theo phát ngôn viên, "các nạn nhân bị Việt cộng giết, thân xác họ không được lành lặn". Cồn Hến nằm giữa sông Hương. Lúc đầu Mặt Trận không màng chiếm Cồn. Nhưng sau nó trở thành một vị trí chiến lược cho việc tiến quân và rút quân từ Gia Hội ra vùng cát Đông Nam, vùng họ chiếm từ nhiều năm nay. Chính quyền xác nhận có 101 xác trong hầm. Theo đồng bào chạy thoát từ Cồn th́ trong số nạn nhân có nhiều người nam mang quân phục, một vài người bận đồ kaki của Mặt Trận, một số khác bận áo ḍng ngắn, một vài người mang quân phục lính cộng ḥa và một vài người bận thường phục. Tôi hỏi nhân viên chính quyền địa phương về tên tuổi các nạn nhân th́ được trả lời là các tử thi không được nhận diện đầy đủ; họ xác nhận là không thể nào quả quyết tất cả đều bị hành quyết; một vài nạn nhân có thể đă chết trong khi giao tranh và vài xác khác, cũng theo họ, là của quân thù.

Vùng chôn thật sự thứ tư nằm sau Tiểu chủng viện, nơi dựng ṭa án nhân dân. Hai hầm chứa xác ba người Việt làm việc cho ṭa đại sứ Hoa Kỳ, hai xác người Mỹ ông Miller và ông Gompertz, nhân viên USOM, và xác một giáo sư trung học người Pháp bị giết v́ lầm là người Mỹ. Tất cả đều bị trói tay. Xác t́m thấy và liệm ngày 09.02. Xác hai người Mỹ và người Pháp được đưa về Đà Nẵng.

Quận Tả Ngạn, vùng thứ năm, do một quân nhân người Úc khám phá ngày 10.03.68. Ba hầm rănh với 21 tử thi, tất cả đều nam giới, tay bị trói, đạn bắn xuyên đầu và cổ. Một hầm khác, vùng thứ sáu, nằm cách Huế 5 dặm về hướng Đông, được khám phá ngày 14.03.68 do một cố vấn quân sự Mỹ cùng toán lính Việt đi kèm. Hai lăm xác, tất cả đều bị bắn vào đầu, tay trói giật cánh khủyu. Nhờ một cánh tay của một nạn nhân nhôi ra khỏi mặt đất mà hầm được khám phá.

Phía Nam Huế qua hoàng thành ở Nam Giao là nơi mộ phần của vua Tự Đức và Đồng Khánh. Nơi đây là vùng chôn tập thể thứ bảy. Đây đó trên dưới hai chục hầm, có cái giữa đất bằng, có cái dưới bụi cây, có cái bên bờ suối. Bên cạnh hầm lớn, có những hố nhỏ chứa một, hai hoặc ba xác. Hầm đầu tiên được khai quật ngày 19.03.68, nhưng măi cho tới tháng 6.69 vẫn c̣n xác được tiếp tục phát hiện. Ban đầu c̣n dễ nhận dạng, vài xác mang quân phục, ngoài ra c̣n lại thường phục. Đặc biệt ở đây không có xác phụ nữ và trẻ con. Càng về sau việc nhận diện trở nên khó khăn. Dù vậy, cuối hè 1969, người ta cũng nhận diện được xác bố của ông thôn trưởng thôn Than Duong. V́ con trai vắng mặt nên cụ già bị bắt thay con. Về sau con đi t́m cha măi không gặp. Xác cha, đạn xuyên đầu và ót, được t́m thấy tháng 6.69.

Cũng trên đường hướng Nam đó là Tu viện Thiên An, nơi xảy ra trận chiến ác liệt trong thời gian cộng sản tấn công. Khi buộc phải triệt thoái, cánh quân chiếm đóng phía Nam thành phố rút lên núi và chiếm giữ ngôi Tu viện xây cách đây 26 năm, cách Huế 6 cây số hướng Nam, vào ngày 21.02. Lúc đó Tu viện đang là nơi lánh nạn cho hơn 3000 người. Mặc cho các cha ḍng van xin, cộng sản đă cho thần hỏa thiêu rụi ṭa nhà chính trong ṿng hai ngày. Các ṭa nhà bên là chỗ sinh kế của nhà ḍng cũng bị lửa đạn thiêu hủy. Thư viện gồm những pho thư khố và thủ bút quư thời vua chúa cũng chung số phận.

Cha Dom Romain Guillaume, một trong những linh mục của ḍng, bị một lính Việt cộng bắn vào vai lúc rời khỏi ṭa nhà cháy sau khi đă di tản hầu hết dân tỵ nạn. Một linh mục người Việt bị bắn vào chân. Khi rút khỏi đóng gạch vụn Tu viện ngày 25.02, Cộng quân mang theo trên 200 người, trong đó 2 linh mục người Pháp, cha Urbain, 52 tuổi, và cha Guy, 48 tuổi và một số tu sĩ linh mục, tập sinh và người giúp việc. Những người này bị lọc bắt trong thời gian cộng quân chiếm Nhà ḍng và được dẫn đi về hướng Nam. Đa số bọn họ kết liễu cuộc đời gần chỗ lăng các vua. Tới tháng 6.69, tổng cộng 203 xác được khai quật. Trong số nạn nhân ở lăng Tự Đức có Đoan Xuan Tong, 20 tuổi học sinh trung học, nhà ở làng Nguyệt Biểu, quận Hương Thủy. Em biến mất khỏi nhà ngày 06.02.68. Xác em được thân nhân t́m thấy bên cạnh lăng vua ngày 19.03.68, chôn chung với năm người khác cùng làng. Tại lăng Đồng Khánh có xác linh mục Urbain lấp cùng một hố với 10 người khác. Một người Việt khai quật xác cho tôi hay tay linh mục bị trói, ḿnh không có một vết thương, chứng tỏ có lẽ bị chôn sống. Xác ông liệm ngày 23.03.68 và sau đó được một linh mục đồng ḍng nhận diện. Vị linh mục này không thể xác nhận được là tay cha Urbain có bị trói hay không. Sự kiện không có xác đàn bà và con trẻ trong các hầm chứng tỏ các nạn nhân đă bị hành huyết dă man chứ không phải chết trong lúc giao chiến. Nếu bị pháo kích hoặc oanh tạc th́ chắc chắn đă có người bị thương và sống sót, hoặc có người chết không toàn thây. Và chắc rằng họ không phải bị chôn tại chỗ, bởi theo phong tục người chết luôn được mang về nhà ḿnh để hồn họ khỏi phải vất vưởng muôn kiếp. V́ thế nguyên tắc của đối phương là phải dấu nạn nhân thế nào để không bị khám phá, mà nếu có bị khám phá th́ cũng không nhận diện được là ai.

Ngoài thi hài cha Urbain, thi hài cha Guy ḍng Thiên An cũng được t́m thấy trong một hầm riêng ngày 27.03.68 gần lăng Đồng Khánh, với vết đạn ở đầu và cổ.

Vùng chôn thứ tám ở cầu An Ninh khám phá ngày 01.03 với 20 xác. Trong số tử thi có ông Trương Văn Triệu, trung sĩ lính Cộng ḥa. Trung sĩ Triệu có vợ và 5 con. Du kích cộng sản địa phương bắt ông ở trường mẫu giáo Kim Long, nơi ông ẩn trốn. Bị trói và dẫn đi. Nhờ dân chúng gần đó cho hay Việt cộng có chôn xác người gần cầu nên vợ ông đă t́m được xác chồng sau đó.

Xác ông Tran Hy, thuộc lực lượng Nhân Dân Tự Vệ, có vợ 4 con, cũng được lấp cùng hầm với ông Trieu. Ông bị bắt ngày 20.02 khi đang trốn trong nhà một láng giềng. Tay bị trói cánh khuỷu, người không có vết thương nào.

Vùng chôn thứ chín ở cửa Đông Ba, nơi xảy ra giao tranh lớn. Đây chỉ có một hầm 7 người bị bắt tại gia và giết sau đó. Trong đó có ông Ton That Quyen, 42 tuổi. Có gia đ́nh với 10 người con, bị bắt và dẫn đi hôm 08.02.68. Gia đ́nh t́m được xác ông ngày 05.05.68.

Địa điểm thứ mười là trường tiểu học An Ninh Hạ, một hầm 4 xác, trong đó có cảnh sát Tran Trieu Tuc, 52 tuổi, có vợ 7 con. Ông bị bắt tại nhà và mang đi ngày 05.02.68. Xác t́m được ngày 17.03.68 ở trường, mang vết thương ở đầu và cổ. Ba xác c̣n lại: một sinh viên, một quân nhân và một cảnh sát.

Địa điểm thứ mười một là trường Van Chi, một hầm 8 xác. Trong đó có anh Le Van Loang, thợ máy, 35 tuổi, có vợ 6 con. Theo lời chị Loang, anh bị bắt đi dự lớp huấn luyện ngày 06.02. Khi bị dẫn đi, chị và các cháu chạy theo van xin nhưng vô hiệu. Họ ra lệnh mẹ con chị phải quay trở về. Xác anh được những gia đ́nh đi t́m xác người thân t́m thấy ngày 10.03.68 gần trường. Một vài xác bận quân phục, 4 xác chắc chắn là thường dân, trong đó có một sinh viên.

Địa điểm thứ mười hai ở chợ Thông, cách nội thành 2 cây số về hướng Tây. T́m được 102 xác. Trong đó có ông Nguyen Ty, 44 tuổi, thợ xây gạch, có vợ 6 con. Bị bắt ngày 02.02.68 và có lẽ bị giết ở chợ cùng với nhiều nạn nhân khác. T́m được xác ngày 01.03, tay bị trói, một viên đạn từ ót bung ra cửa miệng. Nhiều người khác cũng bị bắn, tay trói. Có nhiều xác đàn bà nhưng không có trẻ con.

Địa điểm thứ mười ba là vùng lăng Gia Long, ở Thiện Hàm bên bờ sông Hương, cách thành phố khoảng 16 cây số hướng Nam và cách ĐànNam Giao cỡ 13 cây số Tây Nam. Gần 200 xác được t́mthấy dưới các đám cây vàbụi rậm, gồmhọc sinh, sinhviên,nhân viên hành chính, quân nhân và nhiều phụ nữ. 27 người thuộclàng lân cận. Sau khi an ninh tạm văn hồi, các bà đi t́m chồng đă khám phá ra địa điểm này. Lúc đầu, họ không dám đi quá xa. Nhưng hai ngày sau, 25.03.68, họ đụng vào một miếng đất mới đào trên triền một trong nhiều thung lũng nhỏ trong vùng. Xác người thân họ nằm nơi đây, tay bị trói cánh khủy, đạn bắn từ sau cổ xuyên qua miệng. Có nhiều rănh hầm nối nhau với nhiều xác. Một số nạn nhân từ nội thành, những người khác từ các làng lân cận. Một số là sinh viên từ Huế về nhà ăn tết.

Địa điểm thứ mười bốn nằm ở giữa Chùa Tăng Quang và Tường Vân, 2,5 cây số Tây Nam Huế. Ở đó có xác 4 người Đức, 3 bác sĩ và một bà vợ, t́m thấy ngày 02.04.68.

Địa điểm mười lăm ở Đông Gi, 16 cây số phía đông Huế trên đường ra bờ biển, t́m thấy ngày 01.04.68. 101 xác, đa số bị trói và miệng nhét đầy giẻ. Tất cả đều nam giới,trong đó có15 sinh viên, nhiều quân nhân và nhân viên hành chính, già lẫn trẻ. Một vài xác không thể nhận diện được.

Tới tháng 05.68, tổng cộng có trên 900 xác người bị coi là mất tích đă được t́m thấy. Dĩ nhiên c̣n nhiều người chưa được tính... Đầu năm 1969 nhiều địa điểm khác được khám phá.

Điểm chôn thứ mười sáu: Đầu tiên ở làng Vinh Thái. Địa điểm thứ hai ở làng Phú Lương. Địa điểm thứ ba ở làng Phú Xuân, tất cả thuộc quận Phú Thứ. Tất cả được t́m thấy trong khoảng từ tháng 01 tới tháng 08.69. Quận này với quận kế bên bị cộng sản chiếm nhiều năm và nơi đây xảy ra nhiều cuộc không tập kéo dài nhiều tháng. Mải tới đầu năm 1969 quân Cộng ḥa mới tiến vào được vùng này...

Ba làng này cách thị xă Huế chừng 15 cây số về các hướng Đông và Đông Nam, cách bờ biển từ 3 tới 5 cây. Theo các viên chức địa phương trên 800 xác được t́m thấy trong các vùng trên trong ṿng 6 tháng. Có hầm đào sâu, có hầm cạn. Nhiều xác chôn lâu rồi, quần áo đă mục... Trong số nạn nhân người ta nhận diện được 16 học sinh trung học, theo học ở Huế nhưng về quê ăn tết. Cả nhân viên hành chính, đàn ông, đàn bà, trẻ em, già lẫn trẻ. Một số tay bị trói, đa số đều chôn cùng một hố. Vùng làng Vinh Thái đào được 135 xác; làng Phú Lương 22; và làng Phú Xuân đợt đầu 230, đợt sau, khám phá vào cuối năm 69, 375 xác. Dù thời gian qua lâu, nhưng nhờ lượng muối cao của đất vùng này giữ, đa số tử thi hăy c̣n có thể nhận diện được. Nhiều nhân viên hành chính và quân nhân, bị bắn ở cổ và đầu. Đa số nạn nhân thuộc nam giới. Một vài phụ nữ và trẻ em và một vài người mang nhiều loại vết thương. Có các linh mục, tu sĩ và chủng sinh của các làng lân cận mất tích từ hơn 20 tháng kể từ biến cố tháng 02.68. Trong số 357 xác có cha Bửu Đồng, một cha sở quận Phú Vang và 2 chủng sinh. Cha đồng dấu được trong túi sau bộ đồ ngủ đen trên người một hộp mắt kính trong đó có ba bức thư tiếng Việt. Một trong ba lá thư này, có bản chụp trưng bày ở nhà thờ chính ṭa Huế, ông viết cho bổn đạo ḿnh (thư t́m thấy trên thi thể ngày 8.11.69).



Các con cái yêu dấu:

Đây là bút tích cuối cùng để nhắc cho các con ghi nhớ bài phúc âm thánh Phêrô trên thuyền băo táp... (3 chữ đọc không ra) đức tin. Lời cầu chúc của Cha ngày đầu xuân cho mọi công việc Tông đồ của Cha giữa chúng con, nhớ.. (hai chữ đọc không ra) khi sự sống của Cha sắp kết liễu theo ư chúa.

Hăy mến Mẹ sốt sắng lần hột, tha mọi lỗi lầm của Cha, xin cám ơn Chúa với Cha, xin Chúa tha tội cho Cha và tận t́nh thương nhớ cầu nguyện cho Cha được sống trong tin tưởng, kiên nhẫn, trong khắc khổ để kiến tạo ḥa b́nh của Chúa Kitô và phục vụ tinh thần Chúa và mọi người trong Mẹ Maria. Xin cầu nguyện cho Cha b́nh an sáng suốt và can đảm cùng mọi sự đau khổ tinh thần, thể xác và gởi mạng sống cho Chúa qua tay Đức Mẹ.

Hẹn ngày tái ngộ trên nước Trời.
Chúc lành cho chúng con.
(Chữ kư Cha Đồng)


Điểm chôn thứ mười bảy ở làng Thượng Ḥa, quận Nam Ḥa, bên bờ sông Tả Trạch, một phụ lưu sông Hương phía Nam lăng Gia Long. 11 xác được t́m thấy giữa các lùm cây trong tháng 07.69. Chỉ có ba xác nhận diện được là người của làng bên cạnh. Tất cả đều mang vết thương cổ và đầu, dấu chỉ của sự hành quyết.

Điểm thứ mười tám ở Thúy Thạnh, quận Hương Thủy, t́m thấy tháng 04.69, và ở làng Vinh Hưng, quận Vinh Lộc, t́m thấy tháng 07.69. Cả hai làng nằm trong vùng bị cộng sản chiếm từ lâu... Trên 70 xác, nhiều xác không c̣n nhận diện được nữa, đa số là đàn ông, vài đàn bà và trẻ con. Họ được nhận diện là người của các làng lân cận và vài người có thể bị chết v́ chiến cuộc bởi ḿnh họ mang nhiều vết thương và xác không toàn vẹn. Các nạn nhân khác bị bắn ở cổ và đầu.

Điểm thứ mười chín t́m thấy vào tháng 09.69 ở Khe Đá Mài, quận Nam Ḥa, một con suối nhỏ chảy vào Khe Đại, phụ lưu sông Hương. Khe chứa đầy xương người, có xương đủ bộ, có xương nằm riêng, sọ nằm riêng; tất cả được nước suối mài trắng tinh. Dân đi cưa gỗ t́m thấy địa điểm này. Nạn nhân có lẽ đă được chôn bên bờ suối trong mùa mưa và nước suối đă dần soi ṃn đất để lộ xác ra, cũng có thể là nạn nhân bị vất xuống suối, chứng cớ là các mảnh quần áo được t́m thấy dọc bờ hoặc ngay dưới khe, th́ việc chôn lấp nạn nhân có lẽ xảy ra trong các tháng mùa mưa (tháng hai, ba, tư). Và điều này có nghĩa là nạn nhân đă được dẫn thẳng tới đây hoặc được mang tới đây sau khi bị bắt một thời gian ngắn. Nếu chôn trong mùa suối khô, th́ sự kiện xảy ra trong khoảng từ tháng 06 tới 10.

Có lẽ để giữ bí mật khi rút lui Việt cộng đă thanh toán vội vàng các nạn nhân tại đây. Theo luật thông thường, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, kẻ thù thường chôn cất xác đồng đội đàng hoàng. Tuy nhiên cũng có thể đây là xương và sọ của lính Mặt Trận và Bắc Việt. Như vậy th́ số phận nào cho những người Phú Cam bị mất tích?

Nghiên cứu các phúc tŕnh quân sự Mỹ th́ không thấy có một cuộc không tạc lớn hoặc của máy bay B 52 nào ở vùng trên, ngoại trừ trận chiến gần Lộc Sơn vào hạ tuần tháng 04.68, một địa điểm cách xa nơi đó chừng 10 cây số. Vả lại lập luận mang người bị chết v́ bom B 52 băng qua vùng đất gập ghềnh để đưa về chôn ở suối này quả không vững. Đường lên núi dễ dàng hơn nhiều. Cũng vậy, nếu kẻ thù bị thiệt hại nặng ở trận Lộc Sơn và, theo thói quen sẵn có, đă mang xác 500 đồng đội đi th́ hẳn lộ tŕnh phải là hướng núi, gần và dễ di chuyển hơn nhiều, chứ làm sao mà chọn băng qua cánh rừng dày đặc khó xuyên qua được này.

Trong thời gian cuộc tấn công của cộng sản có xảy ra giao tranh lớn kéo dài từ Huế qua Bến Ngự, cầu Nam Giao tới gần và trong Nhà ḍng Thiên An. Nhưng đă không có tiếp tục đánh nhau lớn về mạn Nam, khi quân thù chọn đườn rút lui lên núi, hướng trái với Đá Mài. Khe Đá Mài nằm cách thành phố 40 cây số về hướng Nam, bên ngoài vùng lăng tẩm; nơi nầy được coi là vùng không người, chỉ có cộng quân lai vảng. Khe chứa 500 sọ. Địa thế cách trở, cách xa mọi văn minh bởi rừng đồi vách đá cho thấy người ta không muốn để số xác kia, xác của những người mang từ Huế ra bị khám phá, mà nếu có khám phá th́ cũng không nhận diện được. Nằm lẫn với xương là các mảnh quần áo thường, không phải kaki hay vải màu xanh bộ đội miền Bắc hoặc quân phục Mặt Trận. Các sọ vỡ xương trán tất thảy cho thấy bị đánh bởi một vật ǵ nặng. Một số sọ khác không thấy vết tích ǵ ở xương, đây có thể là nạn nhân chết trong lúc giao tranh. Lần lượt tất cả hài cốt được chuyển về thành phố, nơi họ ra đi và tống táng trong an b́nh... Sau khi Đá Mài được khám phá, vẫn c̣n vài trăm người mất tích. Trong số đó có một số sinh viên, điển h́nh là các anh Ngô Anh Vũ, Nguyễn Văn Bích. Cả hai bị bắt ở nhà thờ Phủ Cam. Những người khác, viên chức hành chánh, thành viên chính đảng, thanh niên công giáo, Phật giáo, tu sinh, giáo chức và quân nhân. Họ bị bắt đi, biệt tăm tin tức.

Bên cạnh các hầm chôn tập thể, c̣n có các nạn nhân lẻ tẻ, bị giết tức tưởi. Có khi cả gia đ́nh bị tiêu diệt như gia đ́nh ông Nam Long, thợ buôn, bị bắn cùng vợ và 5 con tại nhà. Ông Ngô Bá Nhuận bị bắn dă man trước rạp chiếu bóng địa phương và ông Phan Văn Tường, lao công, bị giết ngoài nhà ông với bốn đứa con...
The Vietcong Massacre at Hue. Vintage Press, New York, 1976
Reply With Quote
  #2  
Old 03-17-2009, 12:07 PM
T́nh Quê's Avatar
T́nh Quê T́nh Quê is offline
Người khách #2 của 2008 (top posters)
 
Join Date: Dec 2007
Posts: 1,275
Thanks: 0
Thanked 4 Times in 4 Posts
Default Re: Những chuyện không quên trước năm 75!

Trận Chiến Khe Sanh
Linh Vũ
Trong một tuần qua trên các báo chí cũng như những diễn đàn đều có đăng bài dịễn văn nhậm chức của
Tổng Thống Barack Hussein Obama thứ 44 của Hoa Kỳ trong đó ông đă nhắc đến địa danh Khe Sanh
vùng cực Bắc Nam Việt. Địa danh Khe Sanh không chỉ có những người lính của hai miền Nam Bắc
Việt Nam biết đến mà hầu như những cựu chiến binh Hoa Kỳ đă từng tham chiến ở VN đều không thể
quên được trong suốt hơn 42 năm qua.
Trận chiến Khe Sanh một trong những trận chiến lớn nhất thế giới ngang tầm vóc với các trận như
Concord, Gettyburg và Normandy.
Một địa danh nơi đèo heo hút gió đă viết đậm nét trong trang quân sử Hoa Kỳ và Quân Lực Việt Nam
Cộng Ḥa (VNCH).
Khe Sanh như thế nào mà bài diễn văn nhậm chức của Tổng Thống Hoa kỳ phải nhắc đến và người Việt
chúng ta khi nghe đến địa danh đó đều bùi ngùi xúc động.
Và trong những bài dịch, một số dịch giả không biết vô t́nh hay cố ư đă bỏ sót địa danh Khe Sanh đă
làm cho nhiều người trong cộng đồng bất măn.
Sau đây tôi xin mượn bài viết của Phạm Cường Lễ “Khe Sanh 77 ngày trong năm 1968” để chúng ta
nh́n lại trang sử Việt và cho những ai chưa từng biết Khe Sanh là ǵ có cơ hội t́m hiểu Khe Sanh như
thế nào ?
Khe Sanh Bảy Mươi Bảy Ngày Trong năm Một Ngh́n Chín Trăm Sáu Mươi Tám

Căn cứ Khe Sanh nằm trên đường 9 Nam Lào
KHE SANH... một địa danh đèo heo hút gió ở
vùng cực bắc Nam Việt Nam cách vùng Phi Quân
Sự 14 miles (23 km) về phía Nam, và 6 miles (10
km) về phía Đông của vương quốc Lào. Nếu
không có chiến tranh, nét yên tĩnh và phong cảnh
nơi đây có thể sẽ được kể là một trong những ǵ
đẹp nhất trên lănh thổ Việt Nam. Nhưng kể từ
tháng 5 năm 1959, nét an lành của thiên nhiên tại
nơi này bắt đầu bị giao động. Năm đó, bộ đội Bắc
Việt thiết lập hệ thống đường ṃn Hồ Chí Minh
để khởi động công cuộc xâm lăng miền Nam.
Lúc ấy, Khe Sanh chưa phải là căn cứ hay tiền
đồn. Nhưng v́ nằm gần biên giới và giáp ranh
Đường Số 9 -- trục lộ giao điểm của ba quốc gia
Nam Việt, Bắc Việt, và Lào -- nên Khe Sanh đă
nghiễm nhiên trở thành một trong những cứ điểm quan trọng nhất trên bản đồ của cuộc chiến Việt Nam.
Đến 1967, các hoạt động của Cộng quân quanh vùng này bắt đầu gặp nhiều khó khăn. Quân đội Hoa Kỳ
tăng cường quân số ở vùng này. Họ tu bổ Khe Sanh để trở thành một tiền đồn kiên cố. Khe Sanh nằm
sát biên giới Việt-Lào, cạnh bên Quốc Lộ 9, án ngữ cửa ngơ xâm nhập của Bắc Việt vào Nam Việt Nam
ở tỉnh Quảng Trị. Khi Hoa Kỳ tăng cường lực lượng quân sự để giữ Khe Sanh, tướng Vơ Nguyên Giáp
của Bắc Việt đă có kế hoạch bao vây để biến nơi này thành Điện

Last edited by T́nh Quê; 03-17-2009 at 12:18 PM.
Reply With Quote
  #3  
Old 03-17-2009, 12:10 PM
T́nh Quê's Avatar
T́nh Quê T́nh Quê is offline
Người khách #2 của 2008 (top posters)
 
Join Date: Dec 2007
Posts: 1,275
Thanks: 0
Thanked 4 Times in 4 Posts
Default Re: Những chuyện không quên trước năm 75!


Năm 1968, Khe Sanh trở thành một địa danh nổi tiếng nhất nh́ thế giới. Nhưng đó chẳng phải v́ nổi
tiếng qua phong cảnh đẹp nhất, khí hậu trong lành nhất, hoặc có du khách ngoại quốc đến thăm nhiều
nhất. Khe Sanh thật sự đă nổi tiếng v́ có nhiều trận đánh lớn xảy ra tại vùng này trong hai năm 1967 và
1968.
Năm 1968 là thời điểm mà Khe Sanh được nhắc nhở đến nhiều nhất. Đó là thời điểm của Trận Chiến
Tết Mậu Thân khi Việt Cộng mở chiến dịch tổng tấn công trên toàn lănh thổ VNCH. Trong chiến dịch
này, 20,000 bộ đội Bắc Việt đă được huy động để bao vây 6,000 Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Hoa Kỳ
cùng khoảng 200 tay súng Biệt Động Quân (BĐQ) miền Nam. Nhưng Khe Sanh đă chẳng thất thủ.
Trận chiến kéo dài 77 ngày với Cộng quân hứng chịu hơn 10,000 tổn thất.
o O o
Nằm trên một vùng cao nguyên rộng lớn, bao quanh bởi núi đồi và cây rừng trùng điệp, Khe Sanh là
một căn cứ quân sự vô cùng quan trọng ở tỉnh Quảng Trị.
Năm 1962, căn cứ này được Lực Lượng Đặc Biệt Mũ Xanh (Green Berets) Hoa Kỳ xử dụng đầu tiên
làm nơi xuất phát các phi vụ thám thính đi sâu vào vùng đất Lào. Vị trí chiến lược của Khe Sanh do đó
đă gây nhiều trở ngại lớn lao cho công cuộc xâm lăng miền Nam của Cộng Sản Bắc Việt (CSBV).
Năm 1966, Bắc Việt phản ứng mạnh mẽ bằng cách dùng trọng pháo bắn vào Khe Sanh. Cũng trong
năm này, TQLC Hoa Kỳ có mặt tại Khe Sanh để canh gác và ngăn chận các cuộc xâm nhập của CSBV
từ bên Lào. Giữa năm 1967, nhiều vụ chạm súng lẻ tẻ xảy ra quanh khu vực. Rồi sau đó là các trận
chiến lớn dành giật những ngọn đồi được kéo dài đến gần cuối tháng 1 năm 1968 th́ chiến trường bùng
nổ dữ dội. Ba Sư đoàn chính quy Bắc Việt bao vây, pháo kích, và dùng chiến thuật xa-luân-chiến đánh
Khe Sanh trong 77 ngày. Như đă nhắc đến ở phần trên, quân Bắc Việt bị đại bại với từ 10,000 đến
13,000 cán binh tử thương (Tom Carhart: Batles And Campaigns In Vietnam, tr.130). Trong khi đó, lực
lượng trú pḥng Khe Sanh chỉ bị thiệt hại nhẹ. Hoa Kỳ có 199 binh sĩ Mỹ chết và 1,600 bị thương.
Về phía Việt Nam Cộng Ḥa, tổn thất gồm 34 quân nhân tử trận và 184 thương binh (Nguyễn Đức
Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-75, tr.175).
MẶT TRẬN VÙNG KHE SANH NĂM 1967
Vào tháng 3 năm 1967, căn cứ Khe Sanh được pḥng thủ vỏn vẹn chỉ bởi một đại đội TQLC Hoa Kỳ.
Lúc đầu, hỏa lực tại đây chỉ gồm một pháo đội 105 ly, 2 khẩu 155 ly, cùng 2 súng cối loại 4.2 inch. Lực
lượng yểm trợ gồm một đại đội Địa Phương Quân (ĐPQ) và một toán TQLC Hoa Kỳ đóng ở làng Khe
Sanh (ngôi làng này cũng tên là Khe Sanh) cách căn cứ chỉ hơn 2 miles (3.5 km). Và tất cả đều được
yểm trợ bởi các khẩu pháo binh 155 ly và 175 ly ở hai căn cứ hỏa lực Carroll và Rock Pile gần đó.
Ngày 24 tháng 4 năm 1967, một toán TQLC Hoa Kỳ bất ngờ đụng độ với bộ đội Bắc Việt ở một địa
điểm về phía Bắc của Đồi 861. Sau đó tin t́nh báo cho biết quân chính quy Bắc Việt đă tập trung đông
đảo quân số về vùng này. Các đơn vị TQLC Hoa Kỳ lập tức được lệnh tăng cường cho Khe Sanh.
Ngày 25 tháng 4, Tiểu đoàn 3/3 (đọc là Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 3) TQLC Hoa Kỳ đến Khe
Sanh. Sang ngày hôm sau, Tiểu đoàn 2/3 TQLC lập tức tăng cường. Sang đến ngày 27, Pháo Đội B
thuộc Tiểu đoàn 1/12 Pháo Binh có mặt tại căn cứ.
Ngày 28 tháng 4 năm 1967, sau khi được pháo binh yểm trợ, Tiểu đoàn 2/3 TQLC Hoa Kỳ tiến chiếm
Đồi 861. Cùng lúc đó, Tiểu đoàn 3/3 cũng mở cuộc tấn công lên Đồi 881. Đây là những cụm đồi nằm
Page 3 of 11
gần Khe Sanh, và đă được quân đội Hoa Kỳ chọn làm những tiền đồn bảo vệ căn cứ. Trong những ngày
tiếp đến, lực lượng Cọp Biển Hoa Kỳ lần lượt chiếm hết những cao điểm lân cận: Đó là các ngọn đồi
861, 881-Bắc, và 881-Nam.
Ngày 13 tháng 5/1967, Đại Tá J. J. Padley nhậm chức chỉ huy trưởng căn cứ Khe Sanh, thay thế Đại Tá
J. P. Lanigan. Lúc đó, lực lượng pḥng thủ được tăng cường thêm 3 Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 26
TQLC để thay thế cho Trung đoàn 3. Trong khi ấy, từ 24 tháng 4/1967 đến 12 tháng 5/1967, bộ đội Bắc
Việt tiếp tục công kích với nhiều màn chạm súng lẻ tẻ. Các vụ đụng độ này đă gây tử thương cho 155
binh sĩ Hoa Kỳ, nhưng quân Bắc Việt bị thiệt hại nặng hơn với 940 cán binh bỏ mạng.
Mùa Hè 1967, sau khi bị thiệt hại nặng trong một thời gian ngắn (từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 5),
quân Cộng Sản phải tạm ngưng các hoạt động. Áp lực quân sự quanh vùng Khe Sanh giảm sút khá
nhiều. Ngày 12 tháng 8/1967, Đại Tá E. E. Lownds được chỉ định thay thế Đại Tá J. J. Padley trong
chức vụ Trung đoàn Trưởng Trung đoàn 26 TQLC Hoa Kỳ tại Khe Sanh. V́ t́nh h́nh lúc đó đang lắng
dịu, hai trong ba Tiểu đoàn TQLC của Trung đoàn 26 Hoa Kỳ được phép rút khỏi căn cứ. Nhưng tháng
12, Tiểu đoàn 3/26 nhận lệnh tăng cường cho Khe Sanh. Tin t́nh báo cho biết hoạt động của các lực
lượng Cộng Sản đă bắt đầu gia tăng quanh vùng này.
TRẬN CHIẾN KHE SANH TRONG NĂM 1968Đêm 2 tháng 1/1968, gần hàng rào pḥng thủ phía Tây Khe Sanh, một toán TQLC Hoa Kỳ đă phục kích
và bắn hạ 5 cán bộ Cộng Sản. Giấy tờ tịch thu cho biết họ là những sĩ quan cao cấp Bắc Việt, trong đó
có cả một người giữ chức Trung đoàn trưởng. C̣n hai người kia là cán bộ cao cấp về ngành truyền tin
và hành quân. T́nh báo Hoa Kỳ lo ngại một lực lượng hùng hậu của Bắc Việt đă có mặt tại vùng này.
Khi ấy, Trung đoàn 26 TQLC tại Khe Sanh lập tức được lệnh phải bổ sung quân số.
Đến ngày 20 tháng 1/1968, một trận đánh dữ dội đă xảy ra trên Đồi 881-Nam (Ghi Chú: Có hai ngọn
đồi mang tên 881, một ngọn nằm về hướng Bắc của Khe Sanh, và ngọn kia nằm về hướng Nam. Xem
bản đồ). Ngọn đồi này được pḥng thủ bởi một cánh quân của Tiểu đoàn 1/3 TQLC Hoa Kỳ, gồm Bộ
Chỉ Huy của Đại Đội M, hai trung đội bảo vệ, và toàn thể lực lượng của Đại Đội K. Trong tài liệu Nam,
Vietnam 1965-75, Đại Úy William H. Dabney (đại đội trưởng Đại Đội I) cho biết đại đội của ông chỉ
huy có vài khẩu bích kích pháo 81 ly, 3 đại bác 105 ly, và hai súng không-giật 106 ly.
Lúc trời vừa sáng c̣n dầy đặc sương mù, một toán quân của Đại Đội I lục soát ṿng quanh khu vực.
Mọi vật trong không gian và thời gian đang lắng đọng yên lành. Nhưng đến trưa khi sương mù tan biến.
Nét lặng yên của buổi sáng bị giao động giữ dội. Hai trung đội đi đầu lọt vào ổ phục kích của địch quân.
Một rừng đạn đủ loại từ súng cá nhân cho đến vũ khí cộng đồng bay veo véo. Trong ṿng chưa đến một
phút mà đă có 20 binh sĩ Hoa Kỳ ngă gục. Những người c̣n lại nằm rạp xuống tránh đạn. Họ vừa bắn
trả, vừa gọi máy truyền tin xin hỏa lực pháo binh tiếp cứu. Các căn cứ hỏa lực quanh vùng lập tức đáp
lời. Những khẩu đại bác được quay ṇng về hướng Đồi 881-Nam rồi ́ ầm tác xạ. Một rừng đạn pháo
bay đến cày nát chiến trường. Bom Napalm từ phi cơ không yểm ném xuống cản được đợt xung phong
của Cộng quân. Toán Cọp Biển bị thiệt hại nặng. Họ lui về vị trí cũ trên Đồi 881-Nam.
Trong khi ấy, hai trung đội TQLC của Đại Đội M/3/26 (đọc là Đại Đội M thuộc Tiểu đoàn 3 của
Trung đoàn 26) được trực thăng vận đến Đồi 881-Nam. Toán quân này chuẩn bị hợp sức với Đại Đội
I/3/26 để ngày hôm sau mở cuộc lục soát về hướng Đồi 881-Bắc.
Theo tài liệu của Khe Sanh Veterans Home Page, cuộc hành quân này đưa đến một vụ đụng độ ác liệt
dưới chân Đồi 881-Bắc. Lúc ấy, nương vào hỏa lực phi pháo và không yểm, Đại Đội I/3/26 của Đại Úy
Dabney đă đánh cho một Tiểu đoàn Cộng quân tan tành manh giáp. Trong trận này, Hoa Kỳ mất 7
người, Bắc quân mất 103 (Khe Sanh Veterans Home Page, Time Line).
Page 4 of 11
Ngày 20 tháng 1/1968, một biến chuyển quan trọng bất ngờ xảy ra lúc 2 giờ chiều
Reply With Quote
  #4  
Old 03-17-2009, 12:12 PM
T́nh Quê's Avatar
T́nh Quê T́nh Quê is offline
Người khách #2 của 2008 (top posters)
 
Join Date: Dec 2007
Posts: 1,275
Thanks: 0
Thanked 4 Times in 4 Posts
Default Re: Những chuyện không quên trước năm 75!


U.S. Marines huddle as North Vietnamese shell the airfield, aiming for incoming supply aircraft. (Black Star)

Ngày 20 tháng 1/1968, một biến chuyển quan trọng bất ngờ xảy ra lúc 2 giờ chiều, một viên trung úy
Bắc Việt tên Lă Thanh Ṭng thuộc Sư đoàn 325C đột nhiên ra đầu thú. Trung Úy Ṭng cho biết đêm
nay Bắc quân sẽ mở cuộc tấn công lên các ngọn Đồi 861 và 881-Bắc. Ngoài ra, người tù binh cũng tiết
lộ rằng hai Sư đoàn 304 và 325C của Bắc Việt đă vạch sẵn kế hoạch đánh chiếm căn cứ Khe Sanh.
Đúng như lời khai của Trung Úy Ṭng, lúc 12 giờ 30 rạng ngày 21 tháng 1/1968, Cộng quân dùng đại
bác bắn vào Đồi 861. Trước hết, kho chứa đạn của TQLC ở trên đồi trúng đạn pháo kích rồi nổ tan. Kế
đến, lực lượng Cộng Sản gồm 300 cán binh chuẩn bị xung phong lên đồi. Nhưng Đại Đội K/3/26 biết
trước. Họ gờm súng chờ đợi. Trận đánh kéo dài đến 5 giờ 30 sáng, Cộng quân rút lui để lại 47 xác.
Phía bên Đại Đội K/3/26 có một binh sĩ tử trận.
Trong khi ấy ở căn cứ Khe Sanh, quân trú pḥng luôn chú tâm theo dơi các diễn biến trên Đồi 861. Khi
trận đánh kết thúc gần 6 giờ sáng, họ nghe nhiều tiếng "depart" từ xa vọng lại. Bầu trời đột nhiên đổ
cơn mưa. Những hạt mưa to bằng sắt thép với đường kính từ 81 đến 130 ly.
Khi quả đạn đầu tiên lao vào căn cứ, những người lính tại Khe Sanh lập tức xuống hầm. Một số khác co
lại trong giao thông hào. Tay họ ôm nón sắt, và miệng đếm theo tiếng nổ của đạn pháo binh. Trong
phút chốc, kho chứa đạn khổng lồ trong căn cứ với 1,500 tấn đă phát nổ tan tành. Phi đạo ở Khe Sanh
với chiều dài 3,900 feet (1,188 m) bị cày xới lung tung, bị rút ngắn lại chỉ c̣n 2,000 feet (609 m). Thế
mà ngày hôm đó một vài chiếc vận-tải cơ của Hoa Kỳ cũng xuống phi đạo để mang các kiện hàng cho
binh sĩ ở Khe Sanh.
Ngày 22 tháng 1/1968, t́nh h́nh nguy ngập. Tiểu đoàn 1 TQLC Hoa Kỳ đến tăng cường Khe Sanh.
Đây là một đơn vị thuộc Trung đoàn 9. Họ đă nổi danh trong trận đánh tại Côn Thiện (Cồn Tiên) gần
vùng phi quân sự vào năm 1967 vừa qua.
Ngày 26, một lực lượng tăng viện khác được không vận vào Khe Sanh. Đó là Tiểu đoàn 37 BĐQ của
Đại Úy Hoàng Phổ. Đây là một đơn vị bộ chiến già dặn, đầy gan ĺ và kinh nghiệm của VNCH. Trách
nhiệm của họ là tạo ṿng đai pḥng thủ tại khu vực ở hướng Đông ở căn cứ Khe Sanh.
CÁC DIỄN BIẾN CHÁNH YẾU TRONG TRẬN CHIẾN TẠI KHE SANH
- 20 tháng 1: Đụng độ mạnh giữa TQLC Hoa Kỳ và bộ đội Bắc Việt trên Đồi 881-Nam. Hai bên đều
thiệt hại nặng. Trong ngày này, một Trung Úy Bắc Việt ra đầu thú và đă cho biết kế hoạch tấn công của
Cộng quân vào căn cứ Khe Sanh.
- 21 tháng 1: Cộng quân pháo kích vào Khe Sanh. Kho đạn trong căn cứ nổ tung, phi đạo bị hư hại.
Đồi 861 bị pháo kích, nhưng các binh sĩ Hoa Kỳ trên đồi đẩy lui cuộc tấn công của bộ đội Bắc Việt.
- 22 tháng 1: Căn cứ Khe Sanh được tăng viện bởi Tiểu đoàn 1/9 TQLC Hoa Kỳ.
- 26 tháng 1: Tiểu đoàn 37 BĐQ VNCH của Đại Úy Hoàng Phổ đến Khe Sanh. Đây là lực lượng tăng
viện sau cùng trong khoảng thời gian căn cứ bị bao vây.
- 30 tháng 1: Cộng Sản mở chiến dịch Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa trên toàn lănh thổ Nam
Việt Nam. Nhiều thị xă bị tấn công, trong đó có Huế và Saigon là hai thành phố xảy ra những vụ đụng
độ lớn nhất.
- 6 tháng 2: Đêm 6 tháng 1/1968, bộ đội và chiến xa Bắc Việt tấn công Trại Lực Lượng Đặc Biệt ở Làng
Vei, cách Khe Sanh 6 miles (10 km) về hướng Tây. Ngày hôm sau, Làng Vei thất thủ.
- 9 tháng 2: Một trận kịch chiến xảy ra trên Đồi 64, quân Cộng Sản để lại 134 xác chết. Phía bên Hoa
Kỳ có 26 binh sĩ TQLC tử thương.
- 11 tháng 2: Hai vận tải cơ C-130 đáp xuống Khe Sanh. Một chiếc nổ tung v́ trúng đạn pháo kích.
Chiếc c̣n lại gấp rút được sửa chữa rồi bay khập khễnh về phi trường Đà Nẵng b́nh an.
- 21 tháng 2: Bắc Việt tấn công vào ṿng đai pḥng thủ tại khu vực hướng Đông ở Khe Sanh. Nhưng
không chọc thủng được bức tường pḥng thủ kiên cố của BĐQ VNCH.
- Tháng 2-3: Từ tháng 2 đến cuối tháng 3, cường độ pháo kích của Cộng quân tại Khe Sanh quá ác liệt.
Phương pháp tiếp tế duy nhất là móc các kiện hàng vào những cánh dù rồi thả xuống từ các vận tải cơ
trên ṿm trời.
- 23 tháng 2: Cộng quân bắn 1,300 quả đạn đại bác vào Khe Sanh. Trận địa pháo kéo dài 8 tiếng đồng
hồ. Mười (10) quân nhân Hoa Kỳ bị thiệt mạng, 51 người khác bị thương.
- 29 tháng 2: Bộ đội Bắc Việt mở cuộc tấn công ác liệt vào ṿng đai pḥng thủ ở phía Đông căn cứ,
nhưng gặp phải mức kháng cự mănh liệt của Tiểu đoàn 37 BĐQ. Cả ba đợt xung phong của Cộng quân
bị đẩy lui. Họ để lại 70 xác chết trên trận địa.
- 1 đến 15 tháng 4 Ngày 1 tháng 4/1968: Cuộc hành quân PEGASUS (của quân đội Mỹ) và LAM SƠN
207 (của quân đội VNCH) được tiến hành. Chiến dịch kết thúc vào ngày 15 tháng 4/1968. Căn cứ Khe
Sanh hoàn toàn được giải tỏa.
Tổn Thất: Hoa Kỳ: 199 tử thương, 1,600 bị thương.
Việt Nam Cộng Ḥa: 34 tử thương, 184 bị thương.
Cộng Sản Bắc Việt: 10,000 đến 13,000 tử thương.
Lúc ấy, ngoài 6,000 TQLC Hoa Kỳ và một Tiểu đoàn thiện chiến BĐQ VNCH, Khe Sanh lại được
pḥng thủ bởi hỏa lực pháo binh riêng biệt gồm một pháo đội súng cối 106 ly, 3 pháo đội đại bác 105 ly,
và một pháo đội đại bác 155 ly. Về thiết giáp, Khe Sanh có 5 xe tăng loại M-48 và 2 chi đội chiến xa
M-50 Ontos với 6 khẩu đại bác 106 ly trên mỗi chiếc. Về hỏa lực yểm trợ quanh vùng, Khe Sanh nằm
trong tầm tác xạ của 4 pháo đội đại bác 175 ly từ căn cứ Rock Pile và 3 pháo đội 175 ly từ căn cứ
Carroll.
Phía bên kia, lực lượng Cộng Sản cũng hùng hậu không kém: Tướng Vơ Nguyên Giáp lúc ấy nắm trong
tay ít nhất 3 Sư đoàn. Ngoài ra, ông c̣n có thêm một số đơn vị biệt lập hỗ trợ khác. Các đơn vị Cộng
Sản được ghi nhận như sau:
- Sư đoàn 325C CSBV đóng quân về phía Bắc của Đồi 881 Bắc.
- Sư đoàn 304 CSBV (xuất phát từ bên Lào) đóng quân về phía Tây Nam của Khe Sanh.
- Một Trung đoàn thuộc Sư đoàn 324 CSBV đang có mặt ở gần vùng phi quân sự, cách Khe Sanh 15
miles (24 km) về hướng Tây Bắc.
- Sư đoàn 320 CSBV giữ vị trí về phía Bắc của căn cứ hỏa lực Rock Pile.
Ngoài ra, Cộng Sản huy động thêm:
- Một đơn vị Thiết Giáp với chiến xa T-54.
- Hai Trung đoàn 68 và 164 Pháo Binh
Page 6 of 11

Last edited by T́nh Quê; 03-17-2009 at 12:14 PM.
Reply With Quote
  #5  
Old 03-17-2009, 12:16 PM
T́nh Quê's Avatar
T́nh Quê T́nh Quê is offline
Người khách #2 của 2008 (top posters)
 
Join Date: Dec 2007
Posts: 1,275
Thanks: 0
Thanked 4 Times in 4 Posts
Default Re: Những chuyện không quên trước năm 75!


Ngày 30 tháng 1/1968, Cộng Sản phát động chiến dịch Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa (thường
được gọi là cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân) trên toàn lănh thổ miền Nam Việt Nam. Tại những
thành phố lớn, các đơn vị Việt Cộng củng cố các trận đánh lớn để gây tiếng vang. Nhưng gần Khe
Sanh, t́nh h́nh tương đối yên tĩnh. Nhưng sự yên tĩnh chỉ kéo dài được 6 ngàỵ
- Hôm 5 tháng 2/1968, tiếng súng khởi sự nổ trên đồi 861A. Một Tiểu đoàn Việt Cộng (thuộc Sư đoàn
325) mở cuộc tấn công. Địch quân chiếm một phần tại ṿng đai phía Bắc trong khu vực trách nhiệm
của Đại Đội E/2/26. Nhưng sau đó, Bắc quân bị đánh bật trở ra trong một cuộc phản công quyết liệt của
các binh sĩ Cọp Biển. Tổng kết trận đánh có 7 quân nhân Mỹ tử trận, phía bên kia Cộng quân thiệt mất
109 cán binh (Khe Sanh Veterans Home Page: Time Line).
- Ngày 6 tháng 2/1968, quân Cộng Sản đánh vào trại Lực Lượng Đặc Biệt ở Làng Vei, nằm gần Khe
Sanh chừng 6 miles (10 km) về hướng Tây. Quân Bắc Việt có cả chiến xa PT-76. Và đó cũng là lần
đầu tiên Thiết Giáp Bắc Việt trực tiếp lâm chiến tại miền Nam. Do Nga Sô chế tạo và cung cấp cho
Cộng Sản miền Bắc, các xe PT-76 chạy trên xích sắt, được trang bị ṇng súng 76 ly, và có khả năng lội
nước. Tuy vỏ bọc bên ngoài tương đối mỏng, nhưng độ cứng của thép cũng đủ để ngăn chận các loại
đạn trung liên từ 7.62 ly trở xuống.
Trong trận Làng Vei, 11 chiến xa PT-76 của Cộng quân dẫn đầu. Theo sau l một Tiểu đoàn bộ đội yểm
trợ. Đây là một đơn vị thuộc Trung đoàn 66 dưới quyền điều động của Sư đoàn 304. Trận đánh tại
Làng Vei kéo dài chỉ một ngày. Chín (9) trong số 11 chiếc PT-76 bị tiêu diệt, nhưng quân trú pḥng
không ngăn nổi trận biển người của đối phương. Chết trong trận này gồm hơn 200 binh sĩ Dân Sự Chiến
Đấu Việt Nam cùng 10 trong số 24 sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ.
Ngày 9 tháng 2/1968, một Tiểu đoàn Bắc Việt tấn công (Tiểu đoàn này thuộc Trung đoàn 101D của Sư
đoàn 325) Đồi 64 do Đại Đội A/1/9 Cọp Biển trấn giữ. Các vị trí pḥng thủ trên đồi bị Bắc quân tràn
ngập. Trong t́nh huống nguy cập, các binh sĩ TQLC liên lạc xin phi pháo yểm trợ. Không chút chậm
trễ, các khẩu đại bác quanh vùng đều nhắm hướng Đồi 64 và tác xạ. Khi ấy, một lực lượng TQLC khác
được lệnh phải đến tiếp viện Đồi 64. Trong 3 tiếng đồng hồ máu lửa này, có 150 bộ đội Bắc Việt chết
và 26 binh sĩ Hoa Kỳ tử thương.
Sau trận đánh ở Đồi 64, quân Bắc Việt tạm ngưng các hoạt động để bổ sung quân số. Chiến trường lắng
dịu trong hai tuần. Đến 21 tháng 2/1968, căn cứ Khe Sanh lại bị tấn công. Lần này, một đại đội địch
quân gây áp lực tại pḥng tuyến của Tiểu đoàn 37 BĐQ. Nhưng các binh sĩ Mũ Nâu VNCH đă vững
vàng cố thủ. Trận này kết thúc mau lẹ. Đợt tấn công của đối phương đă bị BĐQ bẻ gẫy.
Hai ngày sau, 23 tháng 2/1968, Bắc quân tập trung pháo binh để phục hận. Một ngh́n ba trăm (1,300)
quả đạn đủ loại đă được bắn vào Khe Sanh (Tom Carhart: Battles And Campaigns In Vietnam, tr.129).
Trận địa pháo 8 tiếng đồng hồ này đă làm nổ tung một kho tồn trữ đạn trong căn cứ, gây thiệt mạng cho
10 quân nhân Hoa Kỳ và 51 người khác bị thương.
Đêm 29 tháng 2, mặt trận vây hăm Khe Sanh chợt bùng nổ với một trận bộ chiến sau cùng: Chín giờ 30
tối, một Tiểu đoàn Cộng quân (thuộc Sư đoàn 304 CSBV) đánh thẳng vào mặt Đông của Khe Sanh.
Đây là khu vực trách nhiệm của các binh sĩ BĐQ VNCH.
Nhưng sau một màn pháo kích dọn đường, và sau ba lần trận biển người xung phong, Tiểu đoàn Bắc
Việt cũng không phá được pḥng tuyến thép của lính rằn ri. Đêm hôm đó, các binh sĩ BĐQ b́nh tĩnh
chiến đấu. Họ đợi đối phương xung phong đến thật gần rồi mới khai hỏa.
Lúc đó trong giao thông hào khói lửa mịt mù. Nón sắt, áo giáp, cài kỹ lưỡng. Súng trường M-16 được
Page 7 of 11
gắn lưỡi lê (bayonet). Lựu đạn đeo ở bụng, trước ngực, hoặc choàng vai. Băng đạn sát bên người, ở
hông và đầy trong túi. Khi Bắc quân tấn công, Tiểu đoàn 37 BĐQ chống trả mănh liệt. Kinh nghiệm
chiến đấu và sự gan dạ của họ chính là một trong các yếu tố quan trọng giúp đẩy lui cả 3 lần xung phong
của Bắc quân. Ngày hôm sau, một toán BĐQ vượt hàng rào kiểm điểm t́nh h́nh. Họ đếm được 70 xác
chết địch quân trên trận địa.
Trong tác phẩm Battles And Campaigns In Vietnam, Tom Carhart có ghi lại một cách ngắn gọn về trận
đánh của Tiểu đoàn 37 BĐQ như sau: Rạng sáng ngày 29 tháng 2/1968, mũi tấn công duy nhất được
nhắm vào ṿng đai trách nhiệm của Tiểu đoàn 37 BĐQ. Khi Cộng quân xung phong đến gần hàng
rào, họ bị lính Mũ Nâu chào đón họ bằng một rừng Claymore (ḿn chống cá nhân), lựu đạn và súng
cá nhân. Địch quân chẳng qua được hàng rào kẽm gai chằng chịt bên ngoài. Bảy mươi (70) xác
chết của họ v́ vậy đă được xem như một công cuộc bại thảm nặng nề.
Trong các tài liệu Anh ngữ nói về trận chiến tại Khe Sanh, hầu như các tác giả và kư giả Hoa Kỳ chỉ ghi
nhận mức chịu đựng bền bỉ của người lính TQLC Hoa Kỳ, nhưng ít ai biết đến hoặc nhắc nhở ǵ về sứ
mạng pḥng thủ của Tiểu đoàn 37 BĐQ. May mắn thay, công trạng của họ đă được Trung Tướng
Phillip Davison nhắc đến trong tài liệu Vietnam At War, The History 1946-75: “...[Tướng] Giáp tưởng
tấn công vào tuyến pḥng thủ của Biệt Động Quân VNCH sẽ dễ dàng hơn là đánh vào những nơi có
TQLC Hoa Kỳ trấn giữ, nhưng đây không thể gọi là dễ dàng được bởi v́ đơn vị Biệt Động Quân
VNCH này chính là một đơn vị thiện chiến rất giỏi.”.
Trận tấn công vào đêm 29 tháng 2 (cho đến rạng ngày 1 tháng 3) là trận tấn công cuối cùng của quân
Bắc Việt vào căn cứ. Ngày 1 tháng 4/1968, chiến dịch giải tỏa Khe Sanh bắt đầu. Cuộc hành quân
mệnh danh PEGASUS (của Mỹ) và Lam Sơn 207 (của Việt Nam Cộng Ḥa) được khởi động với sự
tham dự của nhiều đơn vị thuộc Sư đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ và Nhảy Dù Nam Việt Nam. Trục tiến
quân giải tỏa Khe Sanh được thiết lập dọc theo Quốc Lộ 9.
Vài ngày sau, 8 tháng 4, căn cứ Khe Sanh hoàn toàn được giải tỏa. Giấc mộng tạo dựng một Điện Biên
Phủ thứ hai của Vơ Nguyên Giáp kể như không thành. Các binh đoàn dưới quyền chỉ huy của ông bị
mất từ 10 đến 13,000 bộ đội. Nhiều đơn vị bị xóa tên dưới hỏa lực hùng hậu của pháo binh và không
yểm.
Sau này, các sách vở về chiến tranh Việt Nam đều có nhiều nhận xét khác nhau về chiến thuật của đôi
bên. Một lập luận cho rằng tướng Giáp muốn dụ Hoa Kỳ dồn quân vào Khe Sanh để quân Cộng Sản có
thể rảnh tay tấn công các vùng khác. Một lập luận khác lại cho rằng ông Giáp bao vây Khe Sanh với lư
do muốn tạo dựng một chiến thắng như Điện Biên để buộc Hoa Kỳ phải nhượng bộ rồi đầu hàng. Trong
khi đó, một số tài liệu chiến sử Hoa Kỳ lại nghĩ rằng tướng Westmoreland đă tương kế tựu kế. Ông
mong Cộng quân sẽ tập trung nhiều binh đoàn gần Khe Sanh để ông có thể dùng hỏa lực pháo binh và
phi cơ tiêu diệt.
Nhưng lịch sử đă không theo vết xe lăn của Điện Biên Phủ 14 năm về trước. Năm 1968, Hoa Kỳ có đầy
đủ phương tiện để pḥng thủ, yểm trợ, và tiếp tế Khe Sanh trong 77 ngày, hoặc lâu dài hơn nếu cần
thiết. Phía bên kia, Cộng quân đă không chiếm nổi Khe Sanh, mà lại c̣n bị thiệt mất từ 10,000 đến
13,000 bộ đội. Đó là chưa kể thiệt hại trên các phương diện khác như quân cụ, chiến thuật, cùng hàng
ngàn thương binh.
*Trang h́nh ảnh về căn cứ Khe Sanh: http://www.geocities.com/Pentagon/4867
Reply With Quote
  #6  
Old 03-17-2009, 12:24 PM
T́nh Quê's Avatar
T́nh Quê T́nh Quê is offline
Người khách #2 của 2008 (top posters)
 
Join Date: Dec 2007
Posts: 1,275
Thanks: 0
Thanked 4 Times in 4 Posts
Default Re: Những chuyện không quên trước năm 75!

Tiểu đoàn 37 Biệt Động Quân
Tại Khe-Sanh

Vào tháng mười hai năm 1967, Cộng sản Bắc Việt đă chuẩn bị tấn công vào căn cứ Khe
Sanh, một căn cứ quan trọng do Trung đoàn 3, sau đó là Trung đoàn 26 Thủy quân lục chiến
(TQLC) Hoa-Kỳ trấn giữ. Tướng Giáp xử dụng hai Sư-đoàn 325 và 304 bao vây Khe Sanh
làm cho nhà cầm quyền tại thủ đô Hoa-thinh-Đốn lo lắng về một chiến thắng Điện Biên Phủ
khác xẩy ra tại Khe Sanh.
Các hoạt động của địch bắt đầu từ ngày 21 tháng giêng năm 1968 khi quân Bắc Việt mở
cuộc tấn công vượt sông bị thất bại. Ḍng sông này đem nước dùng cho căn cứ, làm cho đơn
vị trú pḥng luôn lo sợ bị đầu độc. Sau trận tấn công, quân Cộng Sản pháo kích vào căn cứ
làm hư hại một phần phi-đạo và làm nổ nơi chứa đạn phế thải. Phía TQLC Hoa-Kỳ có 18
binh-sĩ tử thương, sau đó lui về cố thủ trong căn cứ và di tản thương dân trong làng.
Trung tướng Robert E. Cushman Jr. tư lệnh Lực Lượng Đệ Tam Thủy Bộ (3 MAF) ra lệnh tăng
cường cho căn cứ với Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 9 TQLC. Chỉ huy căn cứ Khe Sanh lúc đó là đại tá
Lownds, gồm có một Tiểu đoàn pháo binh, bốn Tiểu đoàn TQLC và sau đó nhận thêm Tiểu đoàn 37
Biệt Động Quân (BĐQ) Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) nâng tổng số quân tham chiến lên đến 6,000
người vào cuối tháng giêng.
Quân Bắc Việt bao vây chung quanh Khe Sanh
được ước tính có khoảng trên 15,000 quân. Máy
thăm ḍ điện tử báo cho biết địch quân sắp sửa tấn
công một tiền đồn của TQLC trên đ̣i 881 vào đầu
tháng hai. Trước rạng đông ngày 5, mưa pháo của
TQLC bẻ gẫy kế hoạch tấn công của cộng sản.
Tại tiền đồn trên đồi 861A, v́ không được báo
trước nên quân Cộng Sản Bắc Việt đă mở một cuộc
tấn công bất ngờ vào vị trí, đánh cận chiến. Các binh
sĩ TQLC chống trả mănh liệt và đẩy lui được cuộc tấn
công này và giữ vững tiền đồn.

Trại Lực Lượng Đặc Biệt Lang Vei gần biên giới
Lào bị tấn công ngày 7 tháng hai trước khi trời sáng với 10 chiến xa hạng nhẹ PT-76 do Nga Sô cung
cấp. Âm thanh của chiến xa cùng với đèn pha làm cho binh sĩ trú pḥng náo loạn. Trong lúc chiến đấu
24 biệt kích mũ xanh và 900 dân sự chiến đấu bắn hạ được ba xe tăng và làm hư hại một chiếc khác.
TQLC trong căn cứ Khe Sanh sợ bị phục kích dọc đường nên không dám kéo quân đến tiếp viện. Sau
đó nhờ phi pháo yểm trợ, đại úy LLĐB Frank C. Willoughby dẫn về được 13 biệt kích cùng với 60 binh
sĩ trú pḥng đến căn cứ Khe Sanh an toàn. (Viết theo sách Vietnam story, Will Fowler, trang: 88, 89)
Tiểu đoàn 37 Biệt Động Quân VNCH, dưới quyền chỉ huy của đại úy Hoàng Phổ, là một đơn vị
trừ bị cho Quân đoàn I. Tiểu đoàn được đưa từ Phú Lộc đến Khe Sanh ngày 27 tháng giêng để tăng
cường cho TQLC Hoa-Kỳ đang pḥng thủ căn cứ. Đại tá Lownds dành cho Tiểu đoàn 37 BĐQ vị trí
đóng quân nằm cuối phi đạo, ngoài hàng rào pḥng thủ 100 thước gần chỗ pháo binh và nơi chứa đạn
phế thải. Đại úy Phổ rất sốt sắng mặc dù các binh sĩ BĐQ phải ở ngoài căn cứ v́ không được sự tin
tưởng của người Hoa Kỳ.
Page 10 of 11
Thực tế các binh sĩ TQLC thuộc đại đội Bravo (B) Tiểu đoàn 1/26, đóng phía bên trong hàng rào
pḥng thủ gần tuyến BĐQ rất thích binh sĩ Việt Nam với phù hiệu đầu cọp trên tay áo. Kenny Pipes,
viên chỉ huy đại đội B ghi nhận lính của ông ta chỉ cần thời gian ngắn, rất nể nang Biệt Động Quân và
các sĩ quan của họ. Đại đội B TQLC và BĐQ chia xẻ đạn dược, tiếng báo động lẫn cho nhau. Pipes tin
rằng quân đội Việt Nam Cộng Ḥa (vnch) có cấp chỉ huy nhiều khả năng, hạ sĩ quan giỏi và các binh sĩ
can đảm với tinh thần chiến đấu cao độ.
BĐQ VNCH đến Khe Sanh, đă có hầm hố, giao
thông hào do TQLC Hoa Kỳ làm sẵn. Trong lúc pháo
binh Bắc Việt tiếp tục bắn phá, lính Hoa Kỳ đến mỗi
đêm để đem thương binh vào chỗ quân y. Binh sĩ Việt
Nam ở Khe Sanh không có lương nhiều tháng và
không có thêm quân để thay thế số tổn thất, sau đó vài
ngày lại lo lắng cho gia đ́nh ở hậu phương khi trận
tổng công kích lan tràn khắp trên quê hương. Kenny
Pipes tự hỏi binh sĩ Hoa Kỳ có thể đi hành quân với
hoàn cảnh như người lính Việt Nam không ? Binh sĩ
của đại úy Phổ thường xuyên ra lục soát ban ngày và
tịch thu được đại bác không dật 57 ly trong thời gian bị vây. Pipes kết luận đó là niềm hănh diện được
làm việc với sĩ quan và binh sĩ của một đơn vị đồng minh danh tiếng.
Đại úy Phổ tung một đơn vị BĐQ ra ngoài hoạt động sáng ngày 29 tháng giêng. Vào gần trưa một
giọng nói đặc miền bắc xen vào tần số của BĐQ và nói rằng họ đă nh́n thấy binh sĩ ta nhưng không bắn
v́ giờ phút linh thiêng của dịp tết và đề nghị BĐQ trở về pḥng tuyến của ḿnh. BĐQ thay đổi tần số
làm việc, đến chiều hôm sau th́ bắt gặp một đơn vị Bắc quân cấp trung đội hoặc đông hơn đang di
chuyển về hướng đông bắc và khai hỏa bằng súng cối 60mm, 81mm. Các hoạt động đó được chấp thuận
v́ giới thẩm quyền Việt Nam, Hoa Kỳ đă hủy bỏ lệnh ngưng bắn.
Quân cộng sản Bắc Việt tiếp tục pháo kích vào căn cứ Khe Sanh hằng ngày, hôm ít hôm nhiều, tuy
nhiên cũng đủ làm quân trú pḥng mất ăn, mất ngủ và xuống tinh thần v́ lo lắng sợ hăi đạn rơi bất tử...
Vào ngày 30 tháng giêng, chúng pháo kích trúng khu chứa đạn phế thải gây một đám cháy lớn.

Các vụ pháo kích kể trên được coi như thường xuyên, đến ngày 21 tháng hai. Bỗng nhiên quân
cộng sản gia tăng pháo kích, hôm đó chúng bắn vào căn cứ 50 đạn đại bác, 70 hỏa tiễn và 250 viên đạn
súng cối. Vào xế trưa, chúng dùng một Tiểu đoàn tấn công vào tuyến pḥng thủ của Tiểu đoàn 37
BĐQ do đại úy Hoàng Phổ chỉ huy. Quân đội Việt Nam giữ vững pḥng tuyến, giết 25 cộng quân trong
khi tổn thất về phía ta được coi là nhẹ.
Vài ngày sau, quân Bắc Việt lại tấn công vào vị trí pḥng thủ của BĐQ. Sợ rằng đó là cuộc tấn
công toàn diện, căn cứ Khe Sanh báo động đỏ vào lúc 10:15 tối. Cộng quân tấn công làm ba đợt nhưng
đến 4:30 sáng BĐQ đă làm chủ t́nh h́nh. Quân Việt Nam báo cáo giết bẩy giặc cộng tại pḥng tuyến
nhưng sau đó, khi ra ngoài lục xoát t́m thấy thêm 78 xác chết cùng tịch thu được 12 súng và một số bộc
phá để phá hàng rào kẽm gai. (Viết theo sách Valley of decision, Prados và Stubb, trang: 319, 320, 321,
453, 466).
Trong trận chiến tại Khe Sanh năm 1968, Tiểu đoàn 37 BĐQ VNCH đă làm rạng danh cho binh
chủng và làm cho quân đội đồng minh khâm phục sức chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
(Viết theo sách Chinh Chiến Điêu Linh, Kiều Mỹ Duyên, trang: 105, 106).
Sau đây là vài biến cố đáng ghi nhận tại mặt trận Khe Sanh:

27 tháng giêng. Tiểu đoàn 37 Biệt Động Quân đến Khe Sanh.
7 tháng hai. Trại LLĐB Làng Vei bị tấn công và tràn ngập bởi bộ binh và chiến xa Bắc Việt.
21 tháng hai. 35 cộng quân bỏ xác tại hàng rào pḥng thủ của tiểu đoàn 37 BĐQ.
23 tháng hai. 1307 đạn pháo binh rơi vào căn cứ Khe Sanh.
29 tháng hai. Biệt động quân đẩy lui nhiều đợt tấn công của quân Bắc Việt.
8 tháng ba. Biệt động quân vượt rào giết 26 giặc cộng.
15 tháng ba. Quân Bắc Việt bắt đầu rút ra khỏi Khe Sanh.

Dallas-Texas _Vũ -đ́nh - Hiếu

Last edited by T́nh Quê; 03-17-2009 at 12:25 PM.
Reply With Quote
  #7  
Old 03-17-2009, 01:27 PM
T́nh Quê's Avatar
T́nh Quê T́nh Quê is offline
Người khách #2 của 2008 (top posters)
 
Join Date: Dec 2007
Posts: 1,275
Thanks: 0
Thanked 4 Times in 4 Posts
Default Re: Những chuyện không quên trước năm 75!

Tường-Thuật Trận Hải-Chiến Lịch-Sử Hoàng-Sa

Hải Quân Đại Tá Hà Văn Ngạc


Đôi lời trước khi viết

Đă 25 năm kể từ ngày tôi tham-dự trận hải-chiến Hoàng-Sa, tôi chưa từng tŕnh bầy hay viết mô-tả lại về trận đánh này, ngay cả có nhiều lần tôi đă thất hứa với các bậc tiên-sinh yêu-cầu tôi thuật lại chi-tiết của cuộc đụng-độ. Dù thắng hay bại, chỉ có một điều duy-nhứt không thể chối căi được là các chiến-hữu các cấp của Hải-quân Việt-Nam Cộng-Ḥa trong trận hải-chiến đă anh-dũng chiến-đấu bằng phương-tiện và kinh-nghiệm có trong tay để chống lại một kẻ xâm-lăng truyền-kiếp của dân-tộc hầu bảo-vệ lănh-thổ của Tổ-quốc. Trước một thù-địch có sức mạnh gấp bội, dù cuộc-chiến có hạn-chế hay kéo dài hoặc mở rộng, phần cuối là chúng ta vẫn phải tạm lùi bước trước các cuộc cường-tập của đối-phương để t́m-kiếm một cơ-hội thuận-tiện khác hầu khôi-phục lại phần đất đă bị cưỡng-chiếm.
Hôm nay nhân ngày Tết Kỷ-Măo, tôi viết những gịng này để tưởng-niệm anh-linh các liệt-sĩ đă hy-sinh khi cùng tôi chiến-đấu chống kẻ xâm-lăng trên các mảnh đất xa vời của Quốc-Tổ, một số đă vĩnh-viễn nằm lại trong ḷng biển Hoàng-Sa như để thêm một chứng-tích lịch-sử của chủ-quyền quốc-gia, một số khác đă bỏ ḿnh trên biển cả khi t́m đường thoát khỏi sự tàn-bạo của người phương bắc.
Có nhiều chiến-hữu Hải-quân đă từng hăng-say viết lại một trang-sử oai-hùng của Hải-quân và toàn Quân-lực Việt-Nam của nền Đệ-Nhị Cộng-Ḥa, nhưng đă thiếu-xót nhiều chi-tiết chính-xác mà vào những năm trước 1975 chưa được phép phổ-biến, và cũng v́ phải lưu-lạc khắp thế-giới tự-do nên các chiến-hữu đó đă không thể liên-lạc để tham-khảo cùng tôi.
Nhiều chi-tiết về giờ-giấc và về vị-trí bạn và địch, cũng như tên họ của các cấp có liên-hệ tới biến cố, v́ không có tài-liệu truy-lục, nên chỉ có thể viết vào khoảng gần đúng nhất. Tôi chỉ tường-thuật trung-thực những chi-tiết theo khía-cạnh của một người chỉ-huy chiến-thuật được biết và cũng mong-mỏi các chiến-hữu nào c̣n có thể nhớ chắc-chắn các chi-tiết quan-trọng khác, tôi sẽ sẵn-sàng tiếp-nhận qua ṭa-soạn này, để sửa lại tài-liệu này cho đúng.

Hà-Văn-Ngạc

"Tân xuân Giáp-Dần Hoàng-Sa-chiến
Nam-ngư hải-ngoại huyết lưu hồng"


Hai câu thơ với lối hành-văn vận theo sấm Trạng-Tŕnh đă được truyền-khẩu rất nhanh khi Hải-đội Đặc-nhiệm Hoàng-Sa trở về tới Đà-nẵng vào sáng sớm ngày 20 tháng 4 năm 1974. Và câu thơ này do chính Hải-quân Đại-Tá Nguyễn-Viết-Tân (thủ-khoa Khóa 5 của tôi) lúc đó đang giữ chức-vụ Chỉ-huy-trưởng Sở Pḥng-Vệ Duyên-hải, đọc cho tôi nghe. Từ ngày đó tới nay đă đúng 25 năm, và do sự khuyến-khích của các bậc thượng-trưởng của Hải-quân Việt-Nam, những chi-tiết về diễn-tiến chưa tùng tiết-lộ của trận hải-chiến cần được ghi lại để làm chứng-liệu lịch-sử.
Sau trận hải-chiến, những ưu và khuyết điểm về chiến-thuật và chiến-lược của Hải-quân Việt-Nam Cộng-Ḥa đến nay nếu nêu ra th́ sẽ không c̣n một giá-trị thực-tiễn nào để có thể làm những bài học cho những biến-cố kế-tiếp. V́ vậy một vài điều nếu có nêu ra tại đây th́ chỉ để ghi lại t́nh-trạng và khả-năng khi Hải-quân Việt-Nam Cộng-Ḥa khi đă phải đương đầu với Trung-cộng, là một quốc-gia vào thời-điểm đó, đă sẵn có một lực-lượng hùng-hậu về hải-lục-không-quân gấp bội của Việt-Nam Cộng-Ḥa.
Một điểm hănh-diện cho Hải-quân Việt-Nam Cộng-Ḥa lúc bấy giờ là đă không những phải sát-cánh với lực-lượng bạn chống lại kẻ nội-thù là cộng-sản miền bắc trong nội-địa, lại vừa phải bảo-vệ những hải-đảo xa-xôi, mà lại c̣n phải chiến-đấu chống kẻ xâm-lăng, đă từng biết bao lần dầy xéo đất nước trong suốt lịch-sử lập-quốc và dành quyền độc-lập của xứ sở.
So-sánh với các cuộc hành-quân ngoại-biên vào các năm 1970-71 của Quân-lực VNCH sang đất Kampuchia va Hạ-Lào, th́ quân-lực ta chỉ chiến đẵu ngang ngửa vơi cộng-sản Việt-Nam ẩn náu trên đất nước láng-giềng mà thôi. Phải thành-khẩn mà nhận rằng Hải-quân Việt-Nam Cộng-Ḥa ngoài nội-thù c̣n phải chống ngoại-xâm mà đă rất khó tiên-liệu để chuẩn-bị một cuộc chiến chống lại một lực-lượng hải-quân Trung-cộng tương-đối dồi-đào hơn cả chúng ta về phẩm cũng như lượng. Hải-quân Việt-Nam ta đă có những gánh nặng về hành-quân để yểm-trợ lực-lượng bạn và hành-quân ngăn-chận các vụ chuyển-quân lén-lút của Việt-cộng qua biên-giới Miên-Việt trong vùng sông ng̣i cũng như các vụ tiếp-tế quân-dụng của chúng vào vùng duyên-hải.
Trước khi đi vào chi-tiết của trận hải-chiến lịch-sử này, chúng ta thử nhắc sơ-lược lại cấu-trúc nhân-su của thượng-tầng chỉ-huy và của các đơn-vị tham-chiến của Hải-quân vào lúc biến-cố:
- Tư-lệnh Hải-quân: Đề-Đốc Trần-văn-Chơn
- Tư-lệnh-phó Hải-quân: Phó Đề-Đốc Lâm-ngươn-Tánh
- Tham-mưu-Trưởng Hải-quân: Phó Đề-Đốc Diệp-quang-Thủy
- Tư-lệnh Hạm-đội: HQ Đại-tá Nguyễn-xuân-Sơn
- Tư-lệnh HQ Vùng 1 Duyên-hải: Phó Đề-Đốc Hồ-văn Kỳ-Thoại
- Chỉ-huy-trưởng Hải-đội tuần-dương: HQ Đại-tá Hà-văn-Ngạc, (Hải-đội 3) và là Sĩ-quan chỉ-huy chiến-thuật trận hải-chiến.
- Hạm-trưởng Khu-trục-hạm HQ4: HQ Trung-Tá Vũ-hữu-San
- Hạm-trưởng Tuần-dương-hạm HQ5: HQ Trung-Tá Phạm -trọng- Quỳnh
- Hạm-trưởng Tuần-dương-hạm HQ16: HQ Trung-Tá Lê-văn-Thự
- Hạm-trưởng Hộ-tống-hạm HQ10: HQ Thiếu-Tá Ngụy-văn-Thà (truy-thăng HQ Trung-Tá)
- Trưởng toán Hải-kích đổ-bộ: HQ Đại-Úy Nguyễn-minh-Cảnh.

Lư-do tôi đă có mặt tại Hoàng-Sa
Rất nhiều chiến-hữu trong Hải-quân đă không rơ nguyên-cớ nào mà tôi đă có mặt để đích-thân chỉ-huy tại chỗ trận hải-chiến Hoàng-Sa. Sự có mặt của tôi bắt nguồn từ khi tôi được Hội-đồng Đô-đốc chỉ-định tôi tăng-phái cho Vùng I duyên-hải khoảng từ cuối năm 72 đầu 1973. Lư do tăng-phái của tôi đến Vùng I duyên-hải tôi không được biết trước cho đến khi tôi tới Quân-Khu 1, tôi mới được biết nhiệm-vụ chính của tôi là chuẩn-bị một trận thư-hùng giữa Hải-quân VNCH và hải-quân Bắc-Việt mà lúc đó, tin t́nh-báo xác-nhận là cộng-sản đă được viện-trợ các cao-tốc-đĩnh loại Komar của Nga-sô trang-bị hỏa-tiễn hải-hải (surface to surface). Vào thời-gian đó Hải-quân VNCH chỉ có khả-năng chống-đỡ thụ-động loại vũ-khí này. Cuộc hải-chiến tiên-liệu có thể xẩy ra khi lực-lượng hải-quân cộng-sản tràn xuống để hỗ-trợ cho quân-bộ của chúng khi chúng muốn tái-diễn cuộc cường-tập xuất-phát từ phía bắc sông Bến-Hải như vào ngày cuối tháng 3 năm 1972 để khởi phát các cuộc tấn-công suốt mùa hè đỏ lửa 1972.
Tôi lưu lại Vùng I duyên-hải chừng hai tuần lễ hầu nghiên-cứu để thiết-kế. Kế-hoạch chính của cuộc hải-chiến này là xử-dụng nhiều chiến-hạm và chiến-đỉnh (WPB và PCF) để giảm bớt sự thiệt-hại bằng cách trải nhiều mục-tiêu trên mặt biển cùng một lúc. Song-song với việc này là các chiến-hạm và chiến-đĩnh phải xử-dụng đạn chiếu-sáng và hỏa-pháo cầm-tay như là một cách chống hỏa-tiễn thụ-động. Ngoài ra Hải-quân cũng cần đặt ra sự yểm-trợ của pháo-binh của Quân-đoàn I để tác-xạ ngăn-chặn và tiêu-diệt lực-lượng hải-quân cộng-sản tại phía bắc Cửa Việt trước khi họ tràn xuống phía nam để đủ tầm phóng hỏa-tiễn.
Sau khi đă thuyết-tŕnh tại Bộ-Tư-Lệnh Hải-quân Vùng I duyên-hải cùng các Chỉ-huy-trưởng các đơn-vị duyên-pḥng và duyên-đoàn, Tư-lệnh HQ Vùng I duyên-hải chấp-thuận kế-hoạch và đưa kế-hoạch lên thuyết-tŕnh tai Bộ-Tư-Lệnh Quân-đoàn I và Quân-Khu I. Buổi thuyết-tŕnh tại BTL/Quân-đoàn I do đích-thân Trung-Tướng Ngô-quang-Trưởng chủ-tọa, ngoài Tư-lệnh HQ Vùng I duyên-hải c̣n có Đại-Tá Hà-mai-Việt Trưởng Pḥng 3 Quân-đoàn, Đại-tá Khiêu-hữu-Diêu, Đại-Tá Nguyễn-văn-Chung Chỉ-huy-trưởng pháo-binh Quân-đoàn và một số rất ít các sĩ-quan phụ-tá. Nhu-cầu yểm-trợ pháo-binh cho cuộc hải-chiến được chấp-thuận ngay và Chỉ-huy-trưởng pháo-binh quân-đoàn hứa sẽ phối-trí pháo-binh, đặc-biệt là pháo-binh 175 ly để thỏa-măn kế-hoạch của Hải-quân, khi được yêu-cầu.
Kể từ khi được chỉ-định tăng-phái, tôi thường có mặt tai Vùng I duyên-hải mỗi tháng chừng hai tuần tùy theo công-việc của tôi tại Hải-đội, nhưng chưa lần nào Bộ-Tư-lệnh HQ, Bộ-Tư-lệnh Hạm-đội hoặc Vùng I Duyên-hải chỉ-thị tôi phải có mặt trong vùng. Khi có mặt tại vùng tôi thường t́m-hiểu t́nh-h́nh tổng-quát tại Quân-Khu I cũng như đi hoặc tháp-tùng Tư-lệnh HQ vùng I duyên-hải thăm-viếng các đơn-vị lục-quân bạn cấp sư-đoàn, lữ-đoàn hay trung-đoàn.
Trở lại trận hải-chiến Hoàng-Sa, vào khoảng ngày 11 tháng giêng năm 1974, chỉ khoảng vài ngày sau khi Ngoại-trưởng Hoa-Kỳ Kissinger rời Trung-cộng, th́ đột-nhiên Ngoại-trưởng Trung-cộng lại một lần nữa tuyên-bố về chủ-quyền của họ trên các quần-đảo Hoàng và Trường-Sa. Tôi rất lưu-ư tin này v́ tôi đă chỉ-huy công-cuộc đặt quân trú-pḥng đầu tiên trên đảo Nam-Yết vùng Trường-Sa vào cuối mùa hè 1973. Vài ngày sau, v́ Ngoại-trưởng VNCH Vương-văn-Bắc c̣n bận công-cán ngoại-quốc, th́ phát-ngôn-viên Bộ Ngoại-giao VNCH bác-bỏ luận-cứ của Trung-cộng và tái xác-nhận một lần nữa chủ-quyền của VNCH trên các quần-đảo đó.
Ngày 16 tháng giêng năm 1974, tôi từ Sàig̣n đi Vũng-Tầu để chủ-tọa lễ trao-quyền chỉ-huy Tuần-dương-hạm HQ5 Trần-b́nh-Trọng đang neo tại chỗ, cho tân-hạm-trưởng là Hải-quân Trung-tá Phạm-trong-Quỳnh (tôi không c̣n nhớ tên cựu hạm-trưởng). Khi trở về Sàig̣n, lúc theo dơi bản tin-tức hàng ngày của đài truyền-h́nh th́ thấy Ngoại-trưởng Vương-văn-Bắc hùng-hồn và nghiêm-trọng khi tuyên-bố chủ-quyền của VNCH trên 2 quần-đảo Hoàng và Trường-Sa. Tôi thấy có chuyện bất-ổn có thể xẩy ra tại Vùng I duyên-hải nhất là Việt-cộng có lẽ được Trung-cộng hỗ-trợ tạo ra t́nh-thế rắc-rối ngoài hải-đảo để thu-hút lực-lượng của Hải-quân Việt-Nam, và đương nhiên cộng-sản sẽ lợi-dụng để tràn-xuống dưới vĩ-tuyến 17 như đă dự-liệu.
Nên sáng sớm ngày 17, không kịp thông-báo đến Tư-lệnh Hạm-đội; tôi lên phi-trưởng Tân-sơn-Nhứt và đến thẳng ngay Trạm hàng-không quân-sự. Tôi gặp ngay một vị Thượng-sĩ không-quân trưởng-trạm và nói là tôi cần đi gắp ra Đà-nẵng. Vị Thượng-sĩ tŕnh với tôi là danh-sách hành-khách đă đầy-đủ cho chuyến bay và giới-thiệu tôi gặp vị Trung-úy phi-công-trưởng phi-cơ C130. Sau khi tŕnh-bầy lư-do khẩn-cấp đi Đà-nẵng của tôi, vị phi-công-trưởng trang-trọng mời tôi lên phi-cơ ngồi vào ghế phụ trong pḥng phi-công.
Đến Đà-nẵng khoảng 9:00 sáng, tôi mới kêu điện-thoại cho HQ Đại-tá Nguyễn-hữu-Xuân, Tư-lệnh-phó Vùng cho xe đón tôi tại phi-trường. Đến BTL/HQ Vùng I duyên-hải tôi mới được biết chi-tiết những ǵ đang xẩy ra tại Hoàng-Sa, và được biết thêm là chiếc tuần-dương-hạm HQ5, mà tôi vừa chủ-tọa trao quyền chỉ-huy ngày hôm qua tại Vũng-Tàu sẽ có mặt tại quân-cảng vào buổi chiều tối cùng với biệt-đội hải-kích.
Tư-lệnh HQ vùng I duyên-hải cũng cho tôi hay và giơ một tờ giấy nhỏ nói là ông có thủ-bút của Tổng-thống vừa tới thăm bản-doanh trước đây, nhưng tôi không hỏi về chi-tiết cũng như xin xem thủ-bút v́ tôi nghĩ đó là chỉ-thị riêng tư giữa Tổng-Thống và một vị Tướng-lănh. Vị Tư-lệnh này c̣n cho tôi hai chọn-lựa: một là chỉ-huy các chiến-hạm ngay tại Bộ-Tư-lệnh Vùng, hai là đích-thân trên chiến-hạm. Tôi đáp tŕnh ngay là: Tôi sẽ đi theo các đơn-vị của tôi. Từ ngày được thuyên-chuyển về Hạm-đội, không như các vị tiền-nhiệm, tôi thường xa Bộ-chỉ-huy để đi theo các chiến-hạm trong công-tác tuần-dương. Mỗi chuyến công-tác, sự hiện-diện của tôi đă mang lại cho nhân-viên chiến-hạm niềm phấn-khởi sau nhiều ngày phải xa căn-cứ. Tôi thường lưu ư các vị hạm-trưởng đến việc huấn-huyện nội-bộ hoặc thao-dượt chiến-thuật với chiến-hạm khác khi được phép.
Đến khoảng buổi chiều th́ Tư-lệnh vùng I duyên-hải c̣n hỏi tôi có cần thêm ǵ, tôi tŕnh xin thêm một chiến-hạm nữa v́ cần hai chiếc khi di-chuyển trong trường-hợp bị tấn-công trên hải-tŕnh, chứ không phải v́ số lượng chiến-hạm Trung-cộng đang có mặt tại Hoàng-Sa. Chiếc Hộ-tống-hạm (PCE) HQ10 Nhựt-Tảo đựơc chỉ-định xung vào Hải-đoản đặc-nhiệm, với lư-do chính là chiếc Hộ-tống-hạm này đang tuần-dương ngay khu-vực cửa khẩu Đà-nẵng nên giảm bớt thời-gian di-chuyển, chiến-hạm chỉ có một máy chánh khiển-dụng mà thôi. Ngoài ra vị Tư-lệnh HQ vùng c̣n tăng-phái cho tôi HQ Thiếu-Tá Toàn (Ghi chú của Trần Đỗ Cẩm: HQ Thiếu Tá Nguyễn Chí Toàn, Khóa 11 SQHQ/Nha Trang), mà tôi chưa biết khả-năng nên trong suốt thời-gian tăng-phái tôi chỉ trao nhiệm-vụ giữ liên-lạc với các Bộ Tư-lệnh cho vị sĩ-quan này. Tôi dùng cơm chiều gia-đ́nh cùng Tư-lệnh HQ Vùng tại tư-thất trong khi chờ đợi Tuần-dương-hạm HQ5 tới. Sau bữa ăn, Tư-lệnh HQ Vùng đích-thân đi bộ tiễn-chân tôi ra cầu quân-cảng. Sau trận-chiến, vị Đô-đốc này có thổ-lộ cùng tôi là ông đă tưởng đó là bữa cơm cuối cùng của ông với tôi. Như vậy là trận hải-chiến đă dự-liệu là sẽ có thể xẩy ra, và chắc vị Đô-đốc đă mật-tŕnh về Tư-lệnh Hải-quân thường có mặt tại Bộ-Tư-lệnh.
Tuần-dương-hạm HQ5 rời bến khoảng 09:00 tối và tôi trao nhiệm-vụ đi tới Hoàng-Sa cho Hạm-trưởng HQ5 là vị hạm-trưởng thâm-niên hơn (Ghi chú của Trần Đỗ Cẩm: HQ5 và HQ10 cùng đi Hoàng Sa, Hạm Trưởng HQ5 là Trung Tá Quỳnh thuộc khóa 11 SQHQ Nha Trang, thâm niên hơn Hạm Trưởng HQ10 là Thiếu Tá Thà thuộc khóa 12 SQHQ Nha Trang). Sự hiện-diện của tôi trên chiến-hạm này đă làm tân-hạm-trưởng, vừa nhậm-chức 2 ngày trước, được vững-tâm hơn v́ chắc tân-hạm-trưởng chưa nắm vững được t́nh-trạng chiến-hạm cũng như nhân-viên thuộc-hạ. Các chiến-hạm đều giữ im-lặng vô-tuyến ngoại trừ các báo-cáo định-kỳ về vị-trí.

Last edited by T́nh Quê; 03-17-2009 at 01:36 PM.
Reply With Quote
  #8  
Old 03-17-2009, 01:30 PM
T́nh Quê's Avatar
T́nh Quê T́nh Quê is offline
Người khách #2 của 2008 (top posters)
 
Join Date: Dec 2007
Posts: 1,275
Thanks: 0
Thanked 4 Times in 4 Posts
Default Re: Những chuyện không quên trước năm 75!

Những diễn-tiến ngày hôm trước trận hải-chiến
Khoảng 8 hay 9:00 giờ sáng ngày 18, hai chiến-hạm HQ5 và HQ10 đă đến gần Hoàng-Sa, và trong tầm âm-thoại bằng máy VRC46 (hậu-thân của máy PRC25 nhưng với công-xuất mạnh hơn) để liên-lạc bằng bạch-văn, v́ tầm hữu-hiệu của máy chỉ ở trong vùng Hoàng-Sa mà thôi, tôi nói chuyện với Hạm-trưởng HQ4 HQ Trung-tá Vũ-hữu-San, lúc đó đang là sĩ-quan thâm-niên hiện-diện, để được am-tường thêm t́nh-h́nh cũng như thông-báo về sự hiện-diện của tôi, vừa là Chỉ-huy-trưởng Hải-đội vừa là để thay-thế quyền chỉ-huy mọi hoạt-dộng, theo đúng thủ-tục ghi trong Hải-quy. Sau khi được tŕnh bầy chi-tiết các diễn-tiến, tôi có lời khen ngợi Hạm-trưởng này và chia sẻ những khó-khăn mà vị này đă trải qua trong những ngày trước khi tôi có mặt tại vùng.
Vào khoảng xế trưa, th́ cả 4 chiến-hạm (Ghi chú của Trần Đỗ Cẩm: HQ4, HQ5, HQ10 và HQ16) đều tập-trung trong vùng ḷng chảo của quần-đảo Hoàng-Sa và Hải-đoàn đặc-nhiệm được thành h́nh. Nhóm chiến-binh thuộc Tuần-dương-hạm HQ16 và Khu-trục-hạm HQ4 đă đổ-bộ và trương quốc-kỳ VNCH trên các đảo Cam-Tuyền (Robert), Vĩnh-Lạc (Money) và Duy-mộng (Drummond) từ mấy ngày qua vẫn được giữ nguyên vi-trí pḥng-thủ để giữ đảo. Sau khi quan-sát các chiến-hạm Trung-cộng lởn vởn phía bắc đảo Quang-Ḥa (Duncan), tôi quyết-định ngay là hải-đoàn sẽ phô-trương lực-lượng bằng một cuộc thao-diễn chiến-thuật tập-đội để tiến về phía đảo Quang-Ḥa với hy-vọng là có thể đổ-bộ hải-kích như các chiến-hạm ta đă làm trước đây. Lúc này trời quang-đăng, gió nhẹ và biển êm. Tất cả chiến-hạm đều phải vào nhiệm-sở tác-chiến, nhưng các dàn hải-pháo và vủ-khí đại-liên phải ở trong thế thao-diễn. Khởi hành từ nam đảo Hoàng-Sa để tiến về đảo Quang-Ḥa, 4 chiến-hạm vào đội-h́nh hàng dọc, dẫn đầu là Khu-trục-hạm HQ4, theo sau là tuần-dương-hạm HQ5 làm chuẩn-hạm đă có trương hiệu-kỳ hải-đội, thứ ba là tuần-dương-hạm HQ16 và sau cùng là Hộ-tống-hạm HQ10, tốc-độ chừng 6 gút, khoảng cách giữa các chiến-hạm là hai lần khoảng cách tiêu-chuẩn (tức 1000 yard), phương-tiện truyền-tin là kỳ-hiệu và quang-hiệu, và âm-thoại bằng VRC46 hoặc PRC25 chỉ xử-dụng để tránh hiểu-lầm ám-hiệu vận-chuyển chiến-thuật mà thôi.
Chừng nửa giờ sau khi hải-đoàn vận-chuyển vào đội-h́nh hướng về phía đảo Quang-Ḥa th́ hai chiến-hạm Trung-cộng loại Kronstad mang số-hiệu 271 và 274 bắt đầu phản-ứng bằng cách vận-chuyển chặn trước hướng đi của hải-đoàn, nhưng hải-đoàn vẫn giữ nguyên tốc-độ, trong khi đó th́ hai chiếc chiến-hạm khác nhỏ hơn mang số 389 và 396 (Ghi chú của Trần Đỗ Cẩm: đây là hai trục lôi hạm tức là tầu vớt ḿn loại T43) cùng 2 chiếc ngư-thuyền ngụy-trang 402 và 407 (Ghi chú của Trần Đỗ Cẩm: ngư thuyền số 402 mang tên Nam Ngư) của họ vẫn nằm nguyên vị-trí sát bờ bắc đảo Quang-Ḥa. Tôi đă không chú-tâm đến 2 chiếc chiến-hạm nhỏ của địch v́ cho rằng, hai chiếc này chỉ là loại phụ mà thôi (sau này, khi sưu tầm tài liệu về trận hải chiến Hoàng Sa, HQ Thiếu-Tá Trần-Đỗ-Cẩm truy ra theo số-hiệu là loại trục-lôi-hạm và chắc trang-bị vũ-khí nhẹ hơn) c̣n hai chiếc tầu tiếp-tế ngụy-trang như ngư-thuyền th́ không đáng kể. Hành-động chận đường tiến của chiến-hạm ta đă từng được họ xử-dụng trong mấy ngày trước đây khi các chiến-hạm ta đổ quân lên các đảo Cam-tuyền, Vĩnh-lạc và Duy-mộng để xua quân của Trung-cộng rời đảo. Chiếc Kronstad 271 bắt đầu xin liên-lạc bằng quang-hiệu để xin liên-lạc, Tuần-dương-hạm HQ5 trả lời thuận và nhận công-điện bằng Anh-ngữ: "These islands belong to the People Republic of China (phần này tôi nhớ không chắc-chắn) since Ming dynasty STOP Nobody can deny" (Phần này tôi nhớ rất kỹ v́ tôi có phụ nhận quang-hiệu). Tôi cho gởi ngay một công-điện khái-quát như sau: "Please leave our territorial water immediately"
Công-điện của chiến-hạm Trung-cộng được lập đi lập lại ít nhất 3 lần sau khi họ nhận được công-điện của Hải-đoàn đăc-nhiệm VNCH, và chiến-hạm ta cũng tiếp-tục chuyển lại công-điện yêu-cầu họ rời khỏi lănh-hải của VNCH.
V́ 2 chiến-hạm Kronstad Trung-cộng cố-t́nh chặn đường tiến của Hải-đoàn đặc-chiệm với tốc-độ khá cao, nếu Hải-đoàn tiếp-tục tiến thêm th́ rất có thể gây ra vụ đụng tầu, tôi đưa Hải-đoàn trở về phía nam đảo Hoàng-Sa và vẫn giữ t́nh-trạng ứng-trực cũng như theo dơi các chiến-hạm Trung-cộng, họ cũng lại tiếp-tục giữ vị-trí như cũ tại phía bắc và tây-bắc đảo Quang-Ḥa. Sự xuất-hiện thêm 2 chiến-hạm của Hải-quân Việt-Nam vào trong vùng chắc-chắn đă được chiếc Kronstad 271 của Trung-cộng, được coi như chiến-hạm chỉ-huy, báo cáo về Tổng-hành-dinh của họ, và việc tăng-viện có thể được coi như đă được chuẩn-bị.
Với hành-động quyết-liệt ngăn-chặn ta không tiến được đến đảo Quang-Ḥa, tôi cho rằng họ muốn cố-thủ đảo này. Việc đổ-bộ quân để xua đuổi họ ra khỏi đảo, lúc đó tôi hy-vọng, chỉ có thể phải thực-hiện bất-thần để tránh hành-động ngăn-chặn của họ và có lực-lượng hải-kích với trang-phục người nhái, may ra họ có thể phải nhượng-bộ, như Tuần-dương-hạm HQ16 và Khu-trục-hạm HQ4 đă thành-công trong mấy ngày trước đó. Nếu họ tấn-công thay v́ nhượng-bộ, Hải-đoàn đặc-nhiệm buộc phải sẵn-sàng chống-trả.
Vào khoảng 8 giờ tối, tôi yêu-cầu Tuần-dương-hạm HQ16 chuyển phái-đoàn công-binh của Quân-đoàn I sang Tuần-dương-hạm HQ 5 bằng xuồng. Phái-đoàn công-binh Quân-đoàn I do Thiếu-tá Hồng hướng-dẫn đă vào gặp tôi tại pḥng ăn Sĩ-quan có theo sau Ông Kosh thuộc cơ-quan DAO Hoa-Kỳ tại Đà-nẵng. Tôi cho cả hai hay là t́nh-h́nh sẽ khó tránh khỏi một cuộc đụng-độ nên tôi không muốn các nhân-viên không Hải-quân có mặt trên chiến-hạm và tôi sẽ đưa họ lên đảo. Tôi cũng yêu-cầu Tuần-dương-hạm HQ5 cấp cho tất cả một ít lưong-khô. Riêng ông Kosh th́ tôi yêu-cầu Hạm-trưởng HQ5 đưa cho ông 1 bịch thuốc lá 10 bao Capstan. Tôi tiễn chân tất cả phái-đoàn xuống xuồng và vẫy tay chào họ khi xuồng bắt đầu hướng về đảo Hoàng-Sa. Kể từ giờ phút đó tới nay tôi không có dịp nào gặp lại ông Kosh để thăm hỏi ông và yêu-cầu ông cho trả lại Tuần-dương-hạm HQ5 bịch thuốc lá Capstan v́ thuốc lá này thuộc quân-tiếp-vụ của chiến-hạm xuất ra ứng trước. Riêng Thiếu-tá Hồng th́ tôi đă có dịp thăm hỏi ông tại Los Angeles vào năm 1996, cũng theo lời ông th́ ông đă viết xong vào trước năm 1975, một cuốn kư-sự về thời-gian bị bắt làm tù-binh trong lục-dịa Trung-Hoa nhưng không được Tổng Cục Chiến-tranh Chính-trị cho xuất bản v́ chưa phải lúc thuận-tiện.
Vào khoảng 10 giờ tối, tôi trực-tiếp nói chuyện bằng vô-tuyến với tất cả hạm-trưởng để cho hay là t́nh-h́nh sẽ khó tránh được một cuộc đụng-độ, và yêu-cầu các vị này chuẩn-bị các chiến-hạm và huy-động tinh-thần nhân-viên để sẵn-sàng chiến-đấu. Tôi biết rơ cuộc chiến nếu xẩy ra th́ tất cả nhân-viên đều không đủ kinh-nghiệm cho các cuộc hải-chiến, v́ từ lâu các chiến-hạm chỉ chú-tâm và đă thuần-thuộc trong công-tác tuần-dương ngăn-chặn hoặc yểm-trợ hải-pháo mà thôi, nếu có những nhân-viên đă phục-vụ trong các giang-đoàn tại các vùng sông ng̣i th́ họ chỉ có những kinh-nghiệm về chiến-đấu chống các mục-tiêu trên bờ và với vũ-khí tương-đối nhẹ hơn và dễ-dàng trấn-áp đối-phương bằng hỏa-lực hùng-hậu.
Vào khoảng 11:00 giờ tối ngày 18, một lệnh hành-quân, tôi không c̣n nhớ được xuất-xứ, có thể là của Vùng I duyên-hải, được chuyển mă-hóa trên băng-tần SSB (single side band) (Ghi chú của Trần Đỗ Cẩm: đây là công điện Mật/Khẩn chiến dịch mang số 50.356, nhóm ngày giờ 180020H/01/74 do BTL/HQ/V1ZH gửi với tiêu đề: Lệnh Hành Quân Hoàng Sa 1) . Lệnh hành-quân vừa được nhận vừa mă-dịch ngay nên không bị chậm-trễ, và lệnh này ghi rơ quan-niệm hành-quân như sau: tái-chiếm một cách ḥa-b́nh đảo Quang-Ḥa. Lệnh hành-quân cũng không ghi t́nh-h́nh địch và lực-lượng trừ-bị nhưng những kinh-nghiệm từ trước tới nay nhất là trong hai năm tôi đảm-nhận trách-vụ Tham-mưu-phó hành-quân tại BTL/HQ, tôi dự-đoán Trung-cộng, v́ đă thiết-lập một căn-cứ tiền-phưong tại đảo Phú-lâm thuộc nhóm Tuyên-đức nằm về phía đông-bắc đảo Hoàng-Sa sát vĩ-tuyến 17, nên họ đă có thể đă phối-trí tại đây lực-lượng trừ-bị, và hơn nữa trên đảo Hải-Nam c̣n có một căn-cứ Hải-quân rất lớn và một không-lực hùng-hậu với các phi-cơ MIG 19 và 21 với khoảng cách gần hơn là từ Đà-nẵng ra. Việc Trung-cộng lấn-chiếm những đảo không có quân trú-pḥng của ta trong vùng Hoàng-Sa, đă phải được họ chuẩn-bị và thiết-kế chu đáo từ lâu trước khi tái tuyên-bố chủ-quyền. Trong khi đó việc Hải-quân VNCH phát-hiện sự hiện-diện của họ chỉ có từ khi Tuần-dương-hạm HQ16 được lệnh đến thăm-viếng định-kỳ và chở theo phái-đoàn công-binh Quân-đoàn I ra thám-sát đảo để dự-kiến việc thiết-lập một phi-đạo ngắn.
Ngay sau khi hoàn-tất nhận lệnh hành-quân, tôi chia Hải-đoàn thành hai phân-đoàn đặc-nhiệm: Phân-đoàn I là nỗ-lực chính gồm Khu-trục-hạm HQ4 và Tuần-dương-hạm HQ5 do Hạm-trưởng Khu-trục-hạm HQ4 chỉ-huy; Phân-đoàn II là nỗ-lực phụ gồm Tuần-dương-hạm HQ16 và Hộ-tống-hạm HQ10 do Hạm-trưởng Tuần-dương-hạm HQ16 chỉ-huy. Nhiệm-vụ là phân-đoàn II giữ nguyên vị-trí trong ḷng chảo Hoàng-Sa để tiến về đảo Quang-Ḥa vào buổi sáng. Phân-đoàn I khởi hành vào 12:00 đêm đi bọc về phía tây rồi xuống phía nam sẽ có mặt tại nam đảo Quang-Ḥa vào 06:00 sáng ngày hôm sau tức là ngày 19 để đổ-bộ biệt-đội hải-kích. Phân-đoàn I phải đi bọc ra phía tây quần-đảo thay v́ đi thẩng từ đảo Hoàng-Sa xuống đảo Quang-Ḥa là để tránh việc các chiến-hạm Trung-cộng có thể lại vận-chuyển ngăn-chặn đường tiến của chiến-hạm như họ đă làm vào buổi chiều, vả lại việc hải-hành tập-đội về đêm trong vùng có băi cạn và đá ngầm có thể gây trở-ngại cho các chiến-hạm, nhất là Khu-trục-hạm c̣n có bồn SONAR (máy ḍ tiềm-thủy-đĩnh), hy-vọng hải-tŕnh như vậy sẽ tạo được yếu-tố bất ngờ. Hơn nữa về mùa gió đông-bắc, việc đổ-bộ vào phía tây-nam sẽ tránh được sóng biển cho xuồng-bè. Nên ghi-nhận tại điểm này là kể từ năm 1973, toán cố-vấn HQ Hoa-kỳ tại Hạm-đội mà trưởng toán là HQ Đại-tá Hamn (tên họ) đă nhiều lần yêu-cầu tháo gỡ máy Sonar trên các khu-trục-hạm. Phó Đề-đốc Nguyễn-thành-Châu (lúc đó c̣n mang cấp HQ Đại-tá) Tư-lệnh Hạm-đội đă trao nhiệm-vụ cho tôi thuyết-phục họ giữ máy lại để dùng vào việc huấn-luyện. Măi đến khi HQ Đại-tá Nguyễn-xuân-Sơn nhận chức Tư-lệnh Hạm-đội một thời-gian, tôi vẫn tiếp-tục liên-lạc với toán cố-vấn, và sau cùng họ mới bằng ḷng giữ máy lại với tính-cách để huấn-luyện. Thực ra một khu-trục-hạm mà thiếu máy thám-xuất tiềm-thủy-đĩnh th́ khả-năng tuần-thám và tấn-công sẽ giảm đi nhiều.

Diễn-tiến trận hải-chiến ngày 19 tháng giêng năm 1974
Đúng 6:00 sáng ngày 19, trời vừa mờ sáng, Phân-đoàn I đă có mặt tại tây-nam đảo Quang-Ḥa, thủy-triều lớn, tầm quan-sát trong ṿng 1.50 đến non 2.00 hải-lư, trời có ít mây thấp nhưng không mưa, gió đông-bắc thổi nhẹ, biển tương-đối êm tuy có sóng ngầm. Phân-đoàn I tiến sát đảo khoảng hơn 1 hải-lư, Tuần dương-hạm HQ5 nằm gần bờ hơn một chút để thuận-tiện đổ-bộ hải-kích. Hai chiếc Kronstad 271 và 274 bị bất ngờ rơ-rệt nên thấy họ đă vận-chuyển lúng-túng và không thực-hiện được hành-động ngăn-cản như họ đă từng làm vào chiền hôm trước. Tôi cũng bị bất-ngờ là hai chiếc chủ-lực địch lại có mặt cùng một nơi để sẵng-sàng đối đầu mà tôi không phải t́m-kiếm họ, như tôi đă coi họ như là muc-tiêu chính. Họ đă phải luồn ra khỏi khu ḷng chảo vào ban đêm, nhưng không hiểu là họ có theo dơi được đuờng tiến-quân của Phân-đoàn I hay không. Vào giờ này th́ họ đă phải biết rơ là Tuần-dương-hạm HQ5 là chiến-hạm chỉ-huy của ta và cũng đă phải biết được hỏa-lực của chiếc khu-trục-hạm.
Biệt-đội hải-kích do HQ Đại-úy Nguyễn-minh-Cảnh chỉ-huy đă được tôi chỉ-thị là không được nổ súng và lên bờ yên-cầu toán quân của họ rời đảo. Trong biệt-đội này có một chiến-sĩ hải-kích Đỗ-văn-Long và luôn cả HQ Đại-Úy Nguyễn-minh-Cảnh là những chiến-sĩ đă tham-dự cuộc hành-quân đầu-tiên Trần-hưng-Đạo 22 (nếu tôi không lầm) cũng do tôi chỉ-huy để xây-cất doanh-trại và đặt quân trú-pḥng đầu-tiên trên đảo Nam-Yết thuộc quần-đảo Trường-Sa vào cuối mùa hè năm 1973.
Một lần nữa, khi biệt-đội hải-kích xuồng xuồng cao-su, tôi đích-thân ra cầu thang căn-dặn và nhấn mạnh về việc đổ-bộ mà không được nổ súng, và khi bắt liên-lạc được với họ th́ yêu-cầu họ rời khỏi đảo.
Tôi không chắc là cuộc đổ-bộ sẽ thành-công v́ quân Trung-cộng trên đảo đă phải tổ-chức bố-pḥng cẩn-mật tiếp theo sự thất-bại của họ trên các đảo khác đă nói ở trên, trong khi đó biệt-đội hải-kích lại không có được hỏa-lực chuẩn-bị băi đổ-bộ. Một lần nữa tôi lại chỉ-thị cho các hạm-trưởng chuẩn-bị để chiến-đấu. Nếu cuộc đổ-bộ thất-bại th́ với hỏa-lực của 2 khẩu 76 ly tự-động trên Khu-trục-hạm HQ4, một chiến-hạm chủ-lực của Hải-đoàn đăc-nhiệm, sẽ có đủ khả-năng loại ít nhất là hai chiến-hạm chủ-lực Trung-cộng ra khỏi ṿng chiến không mấy khó-khăn, c̣n quân-bộ của Trung-cộng trên-đảo th́ tôi tin chỉ là một mục-tiêu thanh-toán sau cùng. Tôi c̣n có ư-định là sẽ điều-động chiếc khu-trục-hạm vượt vùng hơi cạn trực-chỉ hướng bắc vào thẳng vùng ḷng chảo để tăng-cường cho Phân-đoàn II nếu cần sau khi đă loại xong 2 chiếc Kronstad mà tôi luôn-luôn cho là mục-tiên chính. Tôi rất vững ḷng vào hỏa-lực của chiến-hạm chủ-lực v́ tôi đă được tường-tŕnh đầy-đủ về khả-năng của hải-pháo 76 ly tự-động khi Khu-trục-hạm này yểm-trợ hải-pháo tại vùng Sa-hùynh trong nhiệm-kỳ hạm-trưởng của HQ Trung-Tá Nguyễn-quang-Tộ.
Biệt-đội hải-kích tiến vào đảo bằng 2 xuồng cao-su, từ chiến-hạm ta, việc quan-sát sự bố-pḥng của Trung-cộng trên đảo không được rơ ràng. Các chiến-hạm Trung-cộng cũng không có phản-ứng ǵ đối với xuồng của hải-kích. Theo báo-cáo của Biệt-đội-trưởng hải-kích th́ chiến-sĩ hải-kích Đỗ-văn-Long là người đầu-tiên tiến vào đảo và vừa nổ súng vừa tiến vào trong nên đă bị hỏa-lực trong bờ bắn tử-thương ngay tại băi-biển. HQ Trung-Úy Lê-văn-Đơn (xuất-thân từ bộ-binh) tiến vào để thâu-hồi tử-thi của liệt-sĩ Long cũng lại bị tử-thương ngay gần xuồng nên tử-thi vị sĩ-quan này được thâu-hồi ngay. Việc thất-bại đổ-bộ được báo-cáo ngay về Bộ-Tư-lệnh HQ vùng I duyên-hải và chừng ít phút sau đó (vào khoảng 09:30 sáng) th́ đích thân Tư-lệnh HQ VNCH hay Tư-lệnh Vùng I duyên-hải ra lệnh vắn-tắt có hai chữ: "khai-hỏa" bằng bạch-văn cho Hải-đoàn đặc-nhiệm và không có chi-tiết ǵ khác hơn. Tôi nhận biết được khẩu-lệnh trên băng siêu-tần-số SSB (single side band) không phải là của nhân-viên vô-tuyến mà phải là của cấp Đô-đốc, nhưng từ đó đến nay tôi vẫn tin rằng là của Tư-lệnh Hải-quân mà tôi đă quen-thuộc giọng nói, nên tôi đă không kiểm-chứng thêm về sau. Tôi trở nên yên-tâm hơn v́ khẩu-lệnh khai hỏa đă giải-tỏa trách-nhiệm của tôi ghi trong phần quan-niệm của lệnh hành-quân là tái-chiếm một cách ḥa-b́nh. Tôi đích-thân vào máy siêu-tần-số tŕnh ngay là chưa có thể khai-hỏa được v́ phải chờ triệt-thối Biệt-đội hải-kích về chiến-hạm, họ c̣n trên mặt biển và ở vào vị-thế rất nguy-hiểm. Riêng tử-thi của liệt-sĩ hải-kích Đỗ-văn-Long tôi lệnh không cho vào lấy v́ có thể gây thêm thương-vong. Tôi tin rằng tử-thi của Liệt-sĩ Long sẽ không khó-khăn để thâu-hồi khi toán quân-bộ Trung-cộng được tiêu-diệt sau đợt các chiến-hạm của họ bị loại hoàn-toàn khỏi ṿng chiến.
Vào khoảng gần 10:00 giờ sáng, biệt-đội hải-kích được hoàn-tất thu-hồi về Tuần-dương-hạm HQ5 với HQ Trung-Úy Lê-văn-Đơn tử-thương. Trong khi đó th́ tôi chỉ-thị cho các chiến-hạm chuẩn-bị tấn-công, mỗi chiến-hạm tấn-công một chiến-hạm địch, và bám sát địch trong tầm hải-pháo 40 ly (khoảng 3 cây-số), v́ loại hải-pháo này có nhịp tác-xạ cao, dễ điều-chỉnh và xoay hướng nhanh hơn. Tôi không tin-tưởng nhiều vào hải-pháo 127 ly và khả-năng điều-khiển chính-xác của nhân-viên v́ hải-pháo chỉ có thể tác-xạ từng phát một, nạp đạn nặng-nề và chậm xoay hướng nên tốt hơn là trực-xạ.
Tất cả các chiến-hạm phải cùng khai-hỏa một lúc theo lệnh khai-hỏa của tôi để tạo sự bất ngờ và sẽ gây thiệt-hại trước cho các chiến-hạm Trung-cộng. V́ tầm quan-sát c̣n rất hạn-chế, nên từ Tuần-dương-hạm HQ5 không quan-sát được Tuần-dương-hạm HQ16 và Hộ-tống-hạm HQ10 cũng như hai chiến-hạm khác và hai ngư-thuyền ngụy-trang của Trung-cộng nên tôi không rơ các chiến-hạm này bám-sát các chiến-hạm Trung-cộng được bao nhiêu, nhưng tôi đă tin rằng Phân-đoàn II không có bận tâm về việc đổ-bộ nên có nhiều th́-giờ hơn để thi-hành kế-hoạch tấn-công và sẽ dễ-dàng chế-ngự được hai chiến-hạm phụ của địch cùng hai ngư-thuyền. Riêng Tuần-dương-hạm HQ5 và Khu-trục-hạm HQ4 đă nghiêm-chỉnh thi-hành lệnh. Trước khi ban-hành lệnh khai-hỏa tôi lần nữa hỏi các chiến-hạm đă sẵn-sàng chưa và nhấn-mạnh một lần nữa là phải khai-hỏa đồng-loạt để đạt yếu-tố bất-ngờ. Các hạm-trưởng đích-thân trên máy VRC46 lần-lượt báo-cáo sẵn-sàng. Tôi rất phấn-khởi v́ giờ tấn-công hoàn-toàn do tôi tự-do quyết-định, không phải lệ-thuộc vào lệnh của thượng-cấp và vào ư-đồ chiến-thuật của địch. Địch lúc này đă tỏ ra không có một ư-định ǵ cản-trở hay tấn-công chiến-hạm ta.
Hải-quân Đại-Tá Đỗ-Kiểm, Tham-mưu-phó hành-quân tại Bộ-Tư-lệnh Hải-quân c̣n đặc-biệt cho tôi hay là có chiến-hạm bạn ở gần, nhưng với sự hiểu-biết của tôi, tôi không có một chút tin-tưởng ǵ vào đồng-ḿnh này v́ kể từ tháng 2 năm 1972 khi Hoa-Kỳ và Trung-cộng đă chấm-dứt sự thù-nghịch nên Hải-quân của họ sẽ không một lư do ǵ lại tham-dự vào việc hỗ-trợ Hải-quân Việt-Nam trong vụ tranh-chấp về lănh-thổ. Họa chăng họ có thể cứu-vớt những người sống-sót nếu các chiến-hạm HQVN lâm-nạn. Nhưng thực-tế cho thấy trong suốt cuộc t́m-kiếm những nhân-viên từ Hộ-tống-hạm HQ10 và các toán đă đổ-bộ lên trấn giữ các đảo đă đào-thoát để trở về đất liền, chúng ta không nhận thấy một hành-động nhân-đạo nào từ phía đồng-minh kể cả của phi-cơ không-tuần.
Khoảng 10:24 sáng th́ lệnh khai-hỏa tấn-công được ban-hành và tôi vào trung-tâm chiến-báo trực-tiếp báo cáo bằng máy siêu-tần-số SSB, tôi đă cố ư giữ ống nói sau khi tôi chấm-dứt báo-cáo để tiếng nổ của hải-pháo cũng được truyền đi trên hệ-thống này. Cuộc khai-hỏa tấn-công đă đạt được yếu-tố bất ngờ cho các chiến-hạm địch v́ tôi cho rằng họ vẫn tin là các hành-động của chiến-hạm cũng tương-tự như trong những vài ngày trước, khi Hải-quân Việt-Nam đổ-quân trên các đảo Cam-tuyền, Vĩnh-lạc và Duy-mộng và nhất là cuộc phô-diễn lực-lượng của hải-đoàn đặc-nhiệm ngày hôm trước Hải-quân Việt-Nam đă không có một hành-dộng khiêu-khích nào, mà c̣n chấp-thuận giữ liên-lạc bằng quang-hiệu.
Chiếc Kronstad 271 nằm về hướng tây gần đảo Quang-Ḥa, hướng mũi về phía tây là mục-tiêu của Tuần-dương-hạm HQ5 đang hướng mũi vào bờ tức là phía đông, đặt mục-tiêu về phía tả-hạm (tức là phía bắc). Chiếc này bị trúng đạn ngay từ phút đầu, vận-chuyển rất chậm-chạp nên đă là mục-tiêu rất tốt cho Tuần-dương-hạm HQ5. Hỏa-lực của chiếc Kronstad 271 này không gây nhiều thiệt-hại cho Tuần-dương-hạm HQ5, nhưng có thể đă gây thiệt-hại nặng cho Hộ-tống-hạm HQ10 nằm về phía bắc. Khu-trục-hạm HQ4 nằm về phía tây-nam của Tuần-dương-hạm HQ5 đặt mục-tiêu là chiếc Kronstad 274 nằm về phía bắc tức là tả-hạm của chiến-hạm. Nhưng chẳng may, HQ4 báo cáo bị trở-ngại tác-xạ ngay từ phút đầu-tiên và phải chờ sửa-chữa. Việc này đă làm đảo lộn các dự-tính của tôi và làm tôi bối-rối. Sau vài phút th́ chiến-hạm này xin bắn thử và kết-quả là vẫn bị trở-ngại và cần tiếp-tục sửa chữa thêm, nhưng tôi vẫn c̣n chút hy-vọng. Khu-trục-hạm HQ4 vài phút sau lại xin tác-xạ thử lần thứ ba nhưng vẫn không có kết-quả, tuy-nhiên chiến-hạm này vẫn phải tiếp-tục bám-sát mục-tiêu của ḿnh trong tầm các loại đại-liên nên đă bị thiệt-hại nhiều bởi hỏa-lực của chiếc Kronstad 274, và đại-liên đă không áp-đảo được hỏa-lực của địch.
Trên Tuần-dương-hạm HQ5, tôi xử-dụng chiếc máy PRC 25 trước ghế hạm-trưởng bên hữu-hạm của đài chỉ-huy để liên-lạc với các chiến-hạm, tôi vừa rời ghế để ra ngoài quan-sát hai phía th́ một trái đạn loại nổ mạnh gây một lỗ lủng khoảng nửa thước đường kính và làm nát máy PRC25, nên từ phút này trở đi tôi phải vào tận Trung-tâm chiến-báo để dùng máy VRC46. Hạm-trưởng Tuần-dương-hạm HQ5 đứng cạnh đài chỉ-huy bên tả-hạm với sĩ-quan hải-pháo để dễ quan-sát mục-tiêu được chỉ-định, nên tôi thường nói trực-tiếp với hạm-trưởng tại nơi này. Trung-tâm chiến-báo của chiến-hạm này chỉ quen-thuộc dùng radar vào việc hải-hành, vả lại trời mù, mây thấp, radar có nhiều nhiễu-xạ nên tôi không được rơ về vị-trí của Phân-đoàn II và các chiến-hạm của địch c̣n nằm trong khu ḷng-chảo Hoàng-Sa.
Sau chừng 15 phút th́ Tuần-dương-hạm HQ16 báo-cáo là bị trúng-đạn hầm máy, tầu bị nghiêng nên khả-năng vận-chuyển giảm-sút, buộc phải lui ra ngoài ṿng chiến để sửa-chữa và cũng không c̣n liên-lạc được với Hộ-tống-hạm HQ10, không biết rơ t́nh-trạng và chỉ thấy nhân-viên đang đào-thoát. Tôi nhận thấy một tuần-dương-hạm đă vận-chuyển nặng-nề mà chỉ c̣n một máy và bị nghiêng, nếu tiếp-tục chiến-đấu th́ sẽ là một mục-tiêu tốt cho địch, nên tôi đă không ra phản-lệnh. Khu-trục-hạm HQ4 đă bị thiệt-hại nhiều sau khi phải bám-sát chiến-hạm địch trong tầm đại-liên, nên tôi ra lệnh cho Khu-trục-hạm HQ4 phải rút ra khỏi ṿng-chiến ngay và chỉ-thị cho Tuần-dương-hạm HQ5 yểm-trợ cho chiếc này khi tiến ra xa, v́ tất-nhiên Hải-đội đặc-nhiệm không thể để bị thiệt-hại một khu-trục-hạm mà Hải-Quân VNCH chỉ có tổng-cộng 2 chiếc mà thôi.
Khi khu-trục-hạm HQ4 ra khỏi vùng chiến, lại không bị chiếc Kronstad 274 truy-kích hoặc tác-xạ đuổi theo, ngược lại chiếc này của địch có phần rảnh tay hơn để tấn-công Tuần-dương-hạm HQ5 vào phía hữu-hạm hầu giảm-bớt hỏa-lực của chiến-hạm ta như để cứu văn chiếc 271 đang bị tê-liệt. Vào giờ này th́ tin-tức từ Bộ-Tư-lệnh Hải-quân tại Sàig̣n do chính Tham-mưu-phó hành-quân cho hay là một phi-đội khu-trục-cơ F5 đă cất-cánh để yểm-trợ cho Hải-đoàn đặc-nhiệm. Do sự liên-lạc từ trước với Bộ-Tư-lệnh Sư-đoàn I Không-quân tại Đà-nẵng, tôi hiểu là phi-cơ F5 chỉ có thể yểm-trợ trong ṿng 5 tới 15 phút mà thôi v́ khoảng-cách từ Đà-nẵng tới Hoàng-Sa quá xa so với nhiên-liệu dự-trữ. Tôi vẫn tin rằng loan tin việc phi-cơ cất-cánh, Bô-Tư-lệnh Hải-quân đă cho rằng tin này có thể làm cho tôi vững-tâm chiến-đấu. Một điều nữa là từ trước tới giờ phút đó tôi chưa được thấy có cuộc thao-dượt hỗn-hợp nào giữa Không-quân và Hải-quân nên tôi rất lo-âu về sự nhận-dạng của phi-công để phân-biệt giũa chiến-hạm của Hải-quân Việt-Nam và chiến-hạm Trung-cộng, nhất là lúc có mây mù thấp, nên phi-cơ có thể gây tác-xạ nhầm mục-tiêu. Máy VRC 46 trong Trung-tâm chiến-báo phải chuyển sang tần-số không-hải và đích thân tôi dùng danh-hiệu để bắt liên-lạc với phi-cơ. Một viên đạn xuyên-nổ trúng ngay Trung-tâm chiến-báo từ hữu-hạm, sát gần ngay nơi tôi đứng, làm trung-tâm bị phát-hỏa. Các nhân-viên trong trung-tâm c̣n mải núp sau bàn hải-đồ th́ tôi nhanh tay với một b́nh cứu-hỏa gần chỗ tôi đứng dập tắt ngay ngọn lửa. Tôi bị té ngă v́ vấp chân vào bàn hải-đồ, bàn chân trái bị đau mất vài ngày. Tôi vẫn vẫn tiếp-tục liên-lạc với phi-cơ nhưng sau chừng 5 tới 10 phút vẫn không thấy đáp-ứng nên tôi phải ngưng và chuyển tần-số về liên-lạc với các chiến-hạm khác v́ cuộc giao-tranh đă đến độ khốc-liệt hơn. Sau phút này th́ Tuần-dương-hạm HQ5 bị trúng nhiều đạn làm sĩ-quan trưởng-khẩu 127 ly tử-thương và hải-pháo bị bất-khiển-dụng v́ phần điện điều-khiển pháo-tháp tê-liệt, và máy siêu-tần-sớ SSB không c̣n liên-lạc được v́ giây trời bị sập rớt xuống sàn tầu, hiệu-kỳ hải-dội bị rách nát phần đuôi. Tôi ra ngoài quan-sát phía tả-hạm và được nghe báo cáo là hầm-đạm phát-hỏa. Tôi nói ngay với hạm-trưởng là cằn phải làm ngập hầm-đạn. Khẩu hải-pháo 40 ly đơn tả-hạm bị bất khiển-dụng v́ bị trúng đạn vào khối nạp-đạn và khẩu 40 ly hữu-hạm bị hư-hại nhẹ. Tôi yêu-cầu hạm-trưởng là chỉ nên cho tác-xạ từng viên mà thôi, v́ nhu-cầu pḥng-không rất có thể xẩy ra trong một thời-gian ngắn.
Bất thần về phía đông vào khoảng 11:25 sáng cách xa chừng 8 đến 10 hải-lư, xuất hiện một chiến-hạm của Trung-cộng loại có trang bị mỗi bên một dàn phóng kép hỏa-tiễn loại hải-hải (Ghi chú của Trần Đỗ Cẩm: đây là loại khinh tốc đĩnh Komar) đang tiến vào vùng giao-tranh với một tốc-độ cao, quan-sát được bằng mắt viễn-kính và không một chiến-hạm nào báo-cáo khám-phá được bằng radar từ xa. Tôi dự-đoán loại chiến-hạm này ít khi được điều-động từng chiếc một, và tin là có thể thêm ít nhất một chiếc theo sau. Với t́nh-trạng của Hải-đội đăc-nhiệm: một hộ-tống-hạm bị loại khỏi ṿng-chiến; một tuần-dương-hạm bị thương nơi hầm máy; một khu-trục-hạm và một tuần-dương-hạm chỉ c̣n hỏa-lực rất hạn-chế; cộng với nguy-cơ bị tấn-công bằng cả hỏa-tiễn hải-hải cũng như bằng phi-cơ rất có thể xẩy ra, nên tôi triệt-thoái phần c̣n lại của lực-lượng là Khu-trục-hạm HQ4 và Tuần-dương-hạm HQ5 ra khỏi vùng Hoàng-Sa tiến hướng đông-nam về phía Subic Bay (Hải-quân công-xưởng của Hoa-Kỳ tại Phi-luật-tân). Tôi cũng cầu-nguyện Đức Thánh Trần, Thánh-Tổ của Hải-quân VNCH ban cho tôi một trận mưa để giảm tầm quan-sát và khả-năng tấn-công của phi-cơ địch. Sau khi hai chiến-hạm c̣n lại rút ra khỏi vùng giao-tranh chừng 10 phút th́ một trận mưa nhẹ đă đổ xuống toàn vùng quần-đảo Hoàng-Sa. Các chiến-hạm ta đă không bị truy-kích và phi-cơ địch cũng chưa xuất-hiện. Mục-đích tôi hướng về phía đông-nam là để tránh bị phục-kích của tiềm-thủy-đĩnh Trung-cộng tại hải-tŕnh Hoàng-Sa Đà-nẵng, và khi ra ngoài xa lănh-hải th́ nếu c̣n bị tấn-công bằng phi-cơ hoặc tiềm-thủy-đĩnh th́ may ra đồng-minh Hải-quân Hoa-Kỳ có thể cấp-cứu chúng tôi dễ-dàng hơn theo tinh-thần cấp-cứu hàng-hải quốc-tế. Nếu chúng tôi không c̣n bị tấn-công th́ việc đến Subic Bay Phi-luật-tân để xin sửa-chữa trước khi hồi-hương là một điều khả-dĩ được thượng-cấp chấp-thuận.
Tuần-dương-hạm HQ5 phải mất gần một giờ mới kéo lên được giây trời khẩn-cấp để tái-lập sự liên-lạc bằng máy siêu-tần-số SSB. Hầm đạn phía mũi của chiến-hạm đă bị làm ngập, mũi bị chúc xuống nên tốc-độ có bị thuyên-giảm. Chính trong thời-gian mất liên-lạc, Bộ Tư-lệnh tại Sàig̣n cũng như tại Đà-nẵng rất bối-rối cho sự an-toàn của hai chiến-hạm và bản-thân tôi. Chính Tư-lệnh Hạm-đội tại Sàig̣n cũng đă đưa tin mất liên-lạc đến với gia-đ́nh tôi.
Vào khoảng 01:00 trưa, hai chiến-hạm HQ4 và HQ5 đă cách Hoàng-Sa chừng 10 hải-lư, trời nắng và quang-đăng. Tư-lệnh Hải-quân đích thân ra lệnh cho cả hai chiến-hạm phải trở lại Hoàng-Sa và đánh ch́m nếu cần, tôi nhận được giọng nói của Đô-đốc. Lệnh đă được thi-hành nghiêm-chỉnh ngay tức khắc. Sau khi liên-lạc vô-tuyến siêu-tần-số được điều-ḥa trở-lại th́ mọi báo-cáo chi-tiết về tổn-thất và t́nh-trạng lúc bấy giờ của các hai chiến-hạm được chuyển đầy-đủ. Trên Tuần-dương-hạm HQ5 tôi cũng được thông-báo về Tuần-dương-hạm HQ16 sẽ được Tuần-dương-hạm HQ6 tới hộ-tống về Căn-cứ Hải-quân Đà-nẵng.
Đến khoảng 02:30 chiều, khi cả hai chiến-hạm đang trở về Hoàng-Sa, quá ngang Ḥn Tri-Tôn, nghĩa là c̣n cách đảo Hoàng-Sa chừng 1 giờ rưỡi hải-hành nữa, th́ hai chiến-hạm được phản-lệnh trở về Đà-nẵng. Lúc này trời đă nắng, mây cao nên rất dễ-dàng cho việc hải-hành. Trong một cuộc đến thăm Tư-lệnh Hải-quân VNCH tại tư-dinh vào khoảng tháng 2 năm 1974, th́ vị Đô-Đốc này đă tiết-lộ rằng nếu biết được sớm t́nh-trạng của Hải-đoàn đặc-nhiệm th́ Tư-lệnh đă cho lệnh trở về căn-cứ trước sớm hơn. Trên đường về, tôi vẫn ra lệnh cho các chiến-hạm giữ nguyên nhiệm-sở tác-chiến và nhất nhất các nhân viên không ở trong nhiệm-sở pḥng máy phải túc-trực trên boong để tránh tổn-thất về nhân-mạng trong trường-hợp bị tiềm-thủy-đĩnh Trung-cộng phục-kích bằng ngư-lôi. Nhưng may-mắn là điều tôi dự-liệu đă không xẩy ra. Các chiến-hạm đă khởi-sự ngay thu-dọn các tổn-thất về vật-liệu và thu-hồi các dư-liệu tác-xạ.
Tôi ṭ-ṃ mở đài phát-thanh BBC vào sáng sớm ngày 20, th́ họ chỉ vỏn-vẹn loan tin một trận hải-chiến đă xẩy ra trong vùng quần-đảo Hoàng-Sa giữa Hải-quân Việt-Nam Cộng-Ḥa và Cộng-Ḥa Nhân-dân Trung-Hoa, mỗi bên thiệt-hại 1 chiến-hạm và không thêm một chi-tiết nào khác. Tôi tỏ ra khâm-phục đài nay về sự loan-tin nhanh chóng và xác đáng.
Tôi đă không hút thuốc từ nhiều tháng qua, nhưng tôi muốn hút một vài điếu thuốc cho tinh-thần bớt căng-thẳng sau gần 48 tiếng đồng-hồ liên-tục không được nghỉ-ngơi, tôi yêu cầu Hạm-trưởng dùng hệ-thống liên-hợp để loan-báo xem có nhân-viên nào c̣n thuốc lá cho tôi xin một ít để hút. Tôi không ngờ là các nhân-viên tuần-tự mang đến cho tôi hơn 2 chục bao cả loại trong khẩu-phần C của đồng-minh và các loại thuốc trong thương-trường lúc bấy giờ, tôi lấy làm cảm-động về sự ưu-ái của các nhân-viên trên chiến-hạm này. Vào khoảng 2 giờ đêm tôi soạn-thoản một sơ-đồ hành-quân và các chi-tiết về tổn-thất để chuẩn-bị thuyết-tŕnh khi về tới căn-cứ.
Khoảng 7:00 sáng ngày 20 tháng giêng th́ hai chiến-hạm của Phân-đoàn I về tới căn-cứ an-toàn. Tuần-dương-hạm HQ16 cũng đă về bến trước đó ít lâu. Một điều mà các nhân-viên của các chiến-hạm và riêng tôi rất cảm-động là trên cầu Thương-cảng Đà-nẵng là nơi đă được chỉ-định cho các chiến-hạm cặp bến, đă có sự hiện-diện của các vị Đô-Đốc Tư-lệnh và Tư-lệnh-phó HQ VNCH, Đô-Đốc Tư-lệnh HQ Vùng I Duyên-hải, một số đông sĩ-quan cùng nhân-viên của các đơn-vị HQ vùng Đà-nẵng cùng các trại gia-binh đă túc-trực đón đoàn chiến-hạm trở về với rừng biểu-ngữ :
"Hải-quânViệt-Nam quyết-tâm bảo-vệ lănh-thổ đến giọt máu cuối cùng".
"Một ư-chí : chống cộng.Một lời thề : bảo-vệ quê-hương".
"Hoan-hô tinh-thần chiến-đấu anh-dũng của các chiến-sĩ Hải-quân tham-dự Hải-chiến Hoàng-Sa".
"Hoan-hô tinh-thần bất-khuất của các chiến-sĩ Hải-chiến Hoàng-Sa".

Sau khi di-tản các chiến-sĩ thương-vong và tử-vong lên căn-cứ thí chỉ có 3 vị Đô-Đốc cùng HQ Đại-tá Nguyễn-viết-Tân Chỉ-Huy-Trưởng Sở Pḥng-vệ Duyên-hải lên Tuần-dương-hạm HQ5 và vào pḥng-khách của Hạm-trưởng để dự cuộc thuyết-tŕnh về trận đánh. Ba vị Hạm-trưởng đều có mặt để tŕnh bầy chi-tiết về chiến-hạm của ḿnh. Các vị Đô-đốc cũng không hỏi thêm tôi về những yếu-tố đă đưa đến những quyết-định chiến-thuật của tôi, nhất là quyết-định triệt-thoái phần c̣n lại của Hải-đoàn đặc-nhiệm ra khỏi vùng Hoàng-Sa. Sau phần thuyết-tŕnh các vị Đô-Đốc đă đi quan-sát sự thiệt-hại của các chiến-hạm và úy-lạo nhân-viên các cấp. Tôi cũng được nghe Đô-đốc Tư-lệnh-phó đề-nghị với Tư-lệnh HQ là sẽ không có thuyết-tŕnh cho Tư-lệnh Quân-đoàn I.
Sau chừng một giờ th́ Trung-tướng Tư-lệnh Quăn-đoàn I/Quân-Khu I cũng tới thăm-viếng và được hướng-dẫn quan-sát một ṿng các chiến-hạm để nhận-định sự thiệt-hại....
Reply With Quote
  #9  
Old 03-17-2009, 01:33 PM
T́nh Quê's Avatar
T́nh Quê T́nh Quê is offline
Người khách #2 của 2008 (top posters)
 
Join Date: Dec 2007
Posts: 1,275
Thanks: 0
Thanked 4 Times in 4 Posts
Default Re: Những chuyện không quên trước năm 75!

Kết-quả của trận-hải-chiến
Một cách tổng-quát th́ sự thiệt hại của hai đối-thủ được kể như tương-đương trong trận hải-chiến. Mỗi bên bị tổn-thất một chiến-hạm, như đài BBC loan tin vào sáng sớm ngày 20 tháng giêng, phía VNCH là Hộ-tống-hạm HQ10, phía Trung-cộng là chiếc Kronstad 271(được coi là chiến-hạm chỉ-huy) c̣n một số khác th́ chịu một sự hư-hại trung-b́nh hoặc trên trung-b́nh. Hai chiếc nhỏ hơn 389 và 396 cùng hai ngư-thuyền ngụy-trang theo tôi ước-lượng chỉ hư-hỏng hơi nặng mà thôi v́ tầm hỏa-lực của ta trội hơn. Riêng chiếc Kronstad 271 có thể bị tổn-thất nhiều nhân-viên hơn v́ trúng nhiều hải-pháo của Tuần-dương-hạm HQ5 vào thương-tầng kiến-trúc, trong khi đó chiếc 274 th́ tổn-thất được coi là nhẹ hơn cả v́ chỉ bị tấn-công nhiều bằng đại-liên và ít hải-pháo về sau này. Tuy-nhiên trong các trận hải-chiến th́ người ta thường kể về số chiến-hạm bị loại khỏi ṿng chiến hơn là số thương-vong về nhân-mạng. Riêng trên Hộ-tống-ham HQ10, theo các nhân-viên đă đào-thoát về được đất liền, th́ vị Hạm-trưởng và Hạm-phó đều bị thương-nặng, nhưng Hạm-trưởng đă từ-chối di-tản và quyết ở lại tuẫn-tiết cùng chiến-hạm của ḿnh theo truyền-thống của một sĩ-quan hải-quân và một nhà hàng-hải. Hạm-phó được nhân-viên d́u đào-thoát được nhưng đă phải bỏ ḿnh trên mặt biển v́ vết thương quá nặng. Vụ này làm tôi nhớ lại, theo lời kể của các bậc tiên-sinh, th́ khi hải-quân Pháp hành-quân trên sông (nếu không lầm th́ là Sông Đáy) một chiến-hạm loại trợ-chiến-hạm (LSSL) hay Giang-pháo-hạm (LSIL) đă bị trúng đạn đài-chỉ-huy, làm tử-thương cả hai hạm-trưởng và hạm-phó cùng một lúc, sĩ-quan cơ-khí đă phải lên thay thế tiếp-tục chỉ-huy. Sau kinh-nghiệm này, hải-quân Pháp không cho hạm-trưởng và hạm-phó có mặt cùng một nơi khi lâm-trận. Cá-nhân tôi lúc đó đă không có chút th́ giờ để nhớ tới kinh-nghiệm mà các bậc tiên-sinh đă truyền lại tôi mà áp-dụng.
Một điều lạ là Trung-cộng có đủ khả-năng tuy khiêm-nhượng, vào lúc cuối trận-chiến, v́ có thêm tăng-viện đến kịp thời, nhưng đă bỏ rơi cơ-hội truy-kích khi lực-lượng ta triệt-thoái, hay xử-dụng hỏa-tiễn hải-hải v́ lực-lượng ta vẫn c̣n nằm trong tầm hữu-hiệu của loại vũ-khí này. Tôi cho rằng có thể họ đă bận-tâm vào việc cứu văn chiếc Kronstad 271 và quân bộ trên đảo Quang-Ḥa, hoặc họ đă không nhận được lệnh tấn-công, và chỉ đương-nhiên chống-trả tự-vệ mà thôi. Tôi nhận rằng ước-tính của tôi về phản-ứng của địch đă cao hơn như thực-tế đă xẩy ra. Việc Hải-quân Viêt-Nam khai-hỏa tấn-công sau khi thất-bại đổ-bộ đă tạo cho Trung-cộng có nguyên-cớ v́ bị tấn-công mà phải hành-động, nên đă dùng cường-lực cưỡng-chiếm các đảo vào ngày sau.
Theo các quân-nhân trú-pḥng trên đảo Hoàng-Sa th́ sáng sớm ngày hôm sau tức là ngày 20 tháng giêng, Trung-cộng đă huy-động một lưc-lượng hùng-hậu kết -hợp hải-lục-không-quân đổ-bộ tấn-chiếm đảo Hoàng-Sa và các đảo kế-cận mà các chiến-binh hải-quân đang chiếm-giữ. Theo kư-giả Lê-Vinh, một cựu sĩ-quan hải-quân, đă từng đảm-trách chức-vụ thư-kư cũa ủy-ban nghiên-cứu trận hải-chiến cho biết, th́ vào thời-gian trận hải-chiến, Hải-quân Hoa-Kỳ đă chuyển cho Hải-quân Việt-Nam một tin-tức về 42 chiến-hạm Trung-cộng với 2 tiềm-thủy-đĩnh đang tiến xuống Hoàng-Sa. Dù nhiều hay ít th́ lực-lượng của họ sễ trội hẳn lực-lượng Hải-quân Việt-Nam có thể điều-động tới. Nếu hai chiến-hạm c̣n lại của Hải-đoàn đặc-nhiệm phải lưu-lại Hoàng-Sa như lệnh ban ra lúc đầu, với khả-năng chiến-đấu đă bị giảm-sút nhiều th́ sự bảo-tồn của hai chiến-hạm này rất mong-manh. Thế cho nên phản-lệnh cho hai chiến-hạm phải trở về căn-cứ được kể như là đúng lúc và sát với thực-tế hơn.
Trung-cộng đă bắt giữ tất cả quân-nhân và dân-chính Việt-Nam trên đảo Hoàng-Sa và toán hải-quân đổ-bộ thuộc Khu-trục-hạm HQ4 trên đảo Vĩnh-Lạc (sát phía nam đảo Hoàng-Sa) mà trưởng toán là HQ Trung-Uư Lê-văn-Dũng (sau được vinh-thăng HQ Đại-Uư tại mặt-trận), làm tù-binh đưa về giam-giữ đầu tiên tại đảo Hải-nam. Riêng ông Kosh là nhân-viên của cơ-quan DAO Hoa-Kỳ tại Đà-nẵng th́ được trao trả cho Hoa-Kỳ sớm nhất tại Hồng-Kông. C̣n các nhân-viên Việt đă bị họ nhồi-sọ về chủ-nghĩa của họ trong suốt thời-gian tại Quảng-Đông, và trao trả về Việt-Nam tại ranh-giới HồngKông và Trung-cộng. Đô-đốc Tư-lệnh-phó HQ đă được đề-cử đích-thân đến HồngKông tiếp-nhận. Các chiến-sĩ từ Trung-cộng hồi-hương đều được đưa vào Tổng-Y-viện Cộng-Ḥa điều-trị về các bệnh-trạng gây ra do các hành-động ngược-đăi trong khi bị giam-cầm trên lục-địa Trung-Hoa.
Thế là cuối cùng th́ Việt-Nam Cộng-Ḥa đă mất nốt nhóm đảo Nguyệt-Thiềm phía nam của cả quần-đảo Hoàng-Sa cho tới ngày hôm nay.
Các chiến-sĩ Hải-quân đào-thoát từ Hoàng-Sa, sau nhiều ngày trôi-dạt trên mặt biển, một số đă được chính các tuần-duyên-đĩnh của Hải-quân cứu vớt, một số đă được các thương-thuyền trên hải-tŕnh Singapore HồngKông bắt gặp. Tất cả các chiến-sĩ thoát-hiểm được đưa về diều-trị tại các Tổng-y-viện Duy-Tân (Đà-nẵng) hay Cộng-Ḥa, và c̣n được Thủ-tướng chính-phủ, các vị Tư-lệnh Quân-đoàn, và các vị Đô-đốc Hải-quân đến thăm hỏi và úy-lạo.

Công-cuộc chuẩn-bị tái-chiếm Hoàng-Sa
Khi phần thăm-viếng của thượng-cấp kết-thúc, th́ tất cả các chiến-hạm bắt tay ngay vào việc sửa-chữa và tái tiếp tế đan-dược đề chuẩn-bị tấn-kích tái-chiếm Hoàng-Sa. Một toán thợ thượng-thặng của Hải-quân công-xưởng cũng đă được điều-động từ Sàig̣n ra để phụ-lực với chuyên-viên của Thủy-xưởng Đà-nẵng. Riêng Tuần-dương-hạm HQ16, tuy không bị hư-hại nhiều trên thượng-tầng kiến-trúc, nhưng các chuyên-viên đă tháo-gỡ được đần viên đạn đă xuyên lủng hầm máy. Viên đạn này là một loại đạn xuyên-phá và không nổ 127 ly của Tuần-dương-hạm HQ5 bị lạc. Kinh-nghiệm cho thấy là loại đầu đạn không nổ nếu trúng nước th́ đạn-đạo sẽ thay đổi rất nhiều v́ đầu đạn nhọn bị nước làm chuyển hướng đi rất xa. Tin này do đích thân Tư-lệnh phó Hải-quân mang đến cho tôi. Đó là một điều không may-mắn cho Hải-đoàn đặc-nhiệm Hoàng-Sa, nhưng trong bất cứ một cuộc chiến-tranh nào, sự nhầm-lẫn về mục-tiêu, về bạn và địch, về vị-trí tác-xạ đều đă xẩy ra ít nhất là tại chiến-trường Việt-Nam. Hơn nữa trong cuộc hải-chiến này, Tuần-dương-hạm HQ5 đă tác-xạ cả trăm đại-pháo 127 ly, mà chỉ có một viên bị lạc, nên vẫn c̣n là điều may-mắn. Việc chiến-hạm bị trúng 1 viên đạn của bạn cộng với việc hai khẩu hải-pháo 76 ly tự-động trên khu-trục-hạm HQ4 đă bị trở-ngại kỹ-thuật ngay từ phút đầu của cuộc chiến, là hai nhược-điểm chiến-thuật mà Hải-quân VNCH chỉ muốn phổ-biến hạn-chế vào đầu năm 1974 là thời điểm, mà nhiều sự phân-tích đáng tin cho rằng Tổng-Thống Nguyễn-văn-Thiệu đă lợi-dụng biến-cố Hoàng-Sa để tránh-né sự chỉ-trích của các phần-tử đối-lập lúc đó đang rất-mạnh.
Sau ít ngày sửa chữa, th́ Tuần-dương-hạm HQ16 chỉ đủ khả-năng tự hải-hành về quân-cảng Sàig̣n và được đón-tiếp trọng-thể. Khu-trục-hạm HQ4 không sửa chữa tại chỗ được hai khẩu 76 ly tư-động. Tuần-dương-hạm HQ5, sau khi tái tiếp-tế đạn và hàn vá các hư-hại đă cùng HQ6 ra khơi t́m-kiếm các nhân-viên đào-thoát khỏi vùng Hoàng-Sa. Các phi-cơ C130 đă bay lượn trong một vùng duyên-hải hạn-chế để tránh sự hiểu nhầm về hành-động khiêu-khích của Việt-Nam đối với Trung-cộng. Các phi-cơ hướng-dẫn các chiến-hạm xem xét các vật trôi trên mặt biển nhưng vẫn chưa cấp-cứu được nhân-viên nào ngoại trừ vỏ một thùng xăng dự-trữ . Tôi vẫn có mặt trên Tuần-dương-hạm HQ5 để tham-dự cuộc t́m-kiếm. Riêng hộ-tống-hạm HQ10, v́ mất liên-lạc nên tôi đă không biết được t́nh-trạng cuối cùng của chiến-hạm, nhưng chúng tôi vẫn c̣n một hy-vọng tuy mong-manh là chiến-hạm này chưa ch́m hẳn và có thể trôi dạt về phía duyên-hải miền Trung trong mùa gió đông-bắc.
Với Tuần-dương-hạm HQ6 đă có mặt trong vùng và vừa hoàn-tất hộ-tống Tuần-dương-hạm HQ16 từ nửa đường Hoàng-Sa Đà-nẵng về bến, cộng với HQ17 (Hạm-trưởng HQ Trung-Tá Trần-đ́nh-Trụ) điều-động từ Trường-Sa tới tăng-cường đă kết-hợp với Tuần-dương-hạm HQ5 thành một Hải-đoàn đặc-nhiệm mới với nhiệm-vụ chuẩn-bị tái-chiếm Hoàng-Sa. Mặc dầu nhiều sĩ-quan thâm-niên hơn tôi có mặt tại chỗ, nhưng tôi vẫn được chỉ-định tiếp-tục chỉ-huy. Một cuộc thao-dượt chiến-thuật và thực-tập tác-xạ đă diễn ra trong ṿng một ngày tại vùng một đảo nhỏ nằm về phía bắc vùng Cù-lao Chàm phía đông-nam Đà-nẵng. Sau cuộc thao-dượt, tôi tŕnh bầy kết-quả việc huấn-luyện trong các buổi thuyết tŕnh hành-quân tại Bộ-Tư-lệnh Hải-quân vùng, vẫn được Tư-lệnh-phó Hải-quân chủ-tọa.
Nhưng cuối cùng th́ công-cuộc tái-chiếm Hoàng-Sa được hủy-bỏ. Tuy vẫn được tín-nhiệm để chỉ-huy, nhưng tôi tin rằng cuộc phản-kích tái-chiếm sẽ thất-bại ngoại trừ đó là một chiến-thuật thí-quân nằm trong một chiến-lược cao hơn. Với các tuần-dương-hạm cũ-kỹ (WHEC) xử-dụng trong lực-lượng pḥng-vệ duyên-hải Hoa-Kỳ (US Coast guard) từ lâu, được trang-bị vào công-tác tuần-tiễu hơn là để chiến-đấu, vừa chạm-chạp và vận-chuyển nặng-nề, nên khó chống trả lại với các chiến-hạm chiến-đấu tối-tân hơn. Loại này chỉ có một hải-pháo 127 ly, c̣n 2 hải-pháo 40 ly đă được Hải-quân Việt-Nam đặt thêm vào lái tầu là nơi đă được dùng làm sàn đáp trực-thăng.
Trong thời-gian tại căn-cứ, Tư-lệnh-phó HQ ít nhất đă hai lần tập-hợp nhân-viên tất cả các chiến-hạm có mặt tại chỗ để chỉ-thị không được có hành-động kiêu-ngạo về chiến-tích của Hải-quân VNCH. Để làm gương cho tất cả nhân-viên thuộc quyền, tôi đă giữ một thái-độ rất khiêm-nhượng và im-lặng. Tôi chưa bao giờ thảo-luận hoặc tŕnh bày chi-tiết với bất cứ một ai hay một tổ chức nào, về những yếu-tố đă đưa đến các quyết-định chiến-thuật của tôi trong trận đánh.
Tôi lưu-lại Vùng I duyên-hải chừng hơn một tuần-lễ, đă được cùng Phó Đề Đốc Tư-lệnh HQ vùng I Duyên-hải xuất-hiện trên đài chỉ-huy cũng của Tuần-dương-hạm HQ5 để thực-hiện một phóng-sự cho đài truyền-h́nh quân-đội. Sau đó tôi trở về nhiệm-sở chính tại Sàig̣n. Tôi c̣n được đến pḥng thâu-h́nh của quân-đội cùng các vị hạm-trưởng và một vài hạ-sĩ-quan trưởng pháo-khẩu để tŕnh bầy các chiến-tích. Tuy nhiên tôi không đề-cập nhiều chi-tiết và nhường lời lại nhiều hơn cho các hạm-trưởng v́ tôi nghĩ rằng các vị này đáng được đề-cao v́ đă đích-thân huy-động tinh-thần nhân-viên và can-dảm trực-tiếp chiến-đấu. Ít lâu sau tôi phải theo học Khóa Chỉ-huy Tham-mưu đặc-biệt tại Long-B́nh, đặc-biệt v́ khóa gồm nhiều các sĩ-quan đang đảm-trách những vai-tṛ then-chốt của quân-lực và các đại-đơn-vị. Khi Phó-Đề-đốc Phụ-tá hành-quân biển của Tư-lệnh-Hải-quân đến thuyết tŕnh tại trường về tổ-chức của Hải-quân Việt-Nam, th́ một câu hỏi đầu-tiên của khóa-sinh là về hải-chiến Hoàng-Sa. Đô-đốc đă chuyển câu hỏi này cho tôi đang ngồi trong hội-trường, quả thật vị này đă trao cho tôi một trái banh khó đỡ. Tôi đáp lại câu hỏi vỏn-vẹn ngay là: Các quí-vị đă nghiên cứu về trận đánh Ấp-Bắc, th́ trận hải-chiến Hoàng-Sa cũng gần tương-tự. Sau câu trả lời của tôi th́ không một câu hỏi nào về trận Hoàng-Sa được nêu ra thêm. Xin ghi thêm vào nơi này, trận Ấp-Bắc đă làm cho quân-lực bị bất ngờ về chiến-thuật cửa địch, có sự sai lầm về ước-tính t́nh-báo và nhầm-lẫn về chiến-thuật điều-quân.
Vào những năm tháng cuối cùng của cuộc-chiến Việt-Nam tôi được biệt-phái giữ chức-vụ Phụ-Tá Hải-quân cho Trung-tướng Chỉ-Huy-trưởng Trường Chỉ-huy Tham-mưu Liên-quân đồn-trú tại Long-B́nh

Phần sau trận hải-chiến
Sau trận hải-chiến, Hải-quân được nhiều vinh-danh nhờ trận-chiến đă nêu cao và nối-tiếp được tinh-thần chống bắc-xâm của dân-tộc. Trận hải-chiến được liên-tục ca-ngợi hàng ngày trên các phương-tiện truyền-thông của quân-đội cũng như ngoài dân-sự để thêm vào với: B́nh-long anh-dũng, Kontom kiêu-hùng v.v....

Hoàng-Trường-Sa với Việt-Nam là một
Cũng nhờ trận hải-chiến mà phần đông nhân-dân Việt-Nam mới được biết đến phần lănh-thổ nằm xa vời trong Biển-Đông mà Hải-quân VNCH từ ngày thành-lập đă âm-thần bảo-vệ và tuần-tiễu.
Nói về trận hải-chiến, dù Hải-quân VNCH giả thử có thắng được trận ngày đầu, th́ chúng ta khó lường được sự tổn-thất nếu Hải-quân c̣n ở lại để cố-thủ Hoàng-Sa. Phó Đề-Đốc Chủ-tịch Ủy-Ban nghiên-cứu về trận hải-chiến khi vị này đích thân thăm-viếng Khu-trục-hạm HQ4, khi đang nằm trong ụ lớn sửa chữa đă nói riêng với tôi: thế là vừa đủ, ư của vị này nói là không nên tiếp-tục chiến-đấu thêm ít nhất là vào thời-điểm đó Hải-quân c̣n phải đảm-nhận nhiều công-tác tiễu-trừ cộng-sản trong đất liền. Đó là chưa kể việc tấn-chiếm phần c̣n lại của quần-đảo Hoàng-Sa có thể đă nằm trong các đường lối đi-đêm chiến-lược của các cường-quốc. Tôi nghĩ rằng nếu chiếc khu-trục-hạm HQ4 không bị trở-ngại kỹ-thuật và trận-chiến đă xẩy ra gần như tôi đă dự-liệu và mong-muốn, nghĩa là ta thắng trận đầu, th́ cường-lực hải-lục-không quân của chúng huy-động ngày hôm sau không những đủ sức tràn ngập quân trú-pḥng và lại c̣n đủ sức truy-kích Hải-quân VNCH trong một vùng rộng lớn hơn. Tôi đă tin-tưởng rằng Quân-đoàn I/Quân-khu I đă phải đặt trong t́nh-trạng báo-động đề-pḥng sự tấn-công của Trung-cộng ngay sau khi trận hải-chiến diễn ra. Một phi-tuần chiến-đấu-cơ F5 của Sư-đoàn I Không-quân tại Đà-nẵng đă sẵn-sàng trên phi-đạo nhưng không được lệnh cất cánh từ cấp cao để yểm-trợ cho Hải-quân v́ có thể là e-ngại sẽ châm ng̣i cho một cuộc chiến mới, hoặc chỉ hạn-chế trận-chiến tới mức có thể chấp-nhận được trong một thế chính-trị.
Một lần nữa, giả-dụ rằng ta cứ để Trung-cộng có mặt trên đảo Quang-Ḥa, trận hải chiến đă không xẩy ra th́ chúng ta vẫn có thể tiếp-tục hiện-diện trên đảo Hoàng-Sa, tuy nhiên có thể phải trải thêm quân trên các đảo Cam-Tuyền, Vĩnh-Lạc và Duy-Mộng, để tránh sự lấn-chiếm, cộng thêm là Hải-quân Việt-Nam phải thường-xuyên tuần-tiễu với một hải-đoàn tương-đối mạnh. Nhưng dần dà họ cũng sẽ lấn chiếm theo kế hoạch bành trướng thế lực của họ trong vùng Đông Nam Á. Có thể Trung-cộng đă trả đũa hay dập theo khuôn-mẫu Việt-Nam Cộng-Ḥa khi ta đă đặt quân trú-pḥng trên đảo Nam-Yết và Sơn-Ca nằm phía nam và đông cùng trên một ṿng-đai san-hô với đảo Thái-B́nh, đă bị Trung-Hoa Dân-quốc (Đài-Loan) chiếm-đóng từ khi Nhật-Bản thua trận đệ-nhị thế-chiến. Người Trung-Hoa dù là lục-địa hay hải-đảo, đă từng nhiều lần tuyên-bố là lănh-thổ của họ, không những vùng này mà thôi mà cả toàn vùng Hoàng-Sa Trường-Sa. Phải thành-khẩn mà nhận rằng, khi Việt-Nam Cộng-Ḥa đặt quân trú-pḥng trên các đảo c̣n bỏ trống trong vùng Trường-Sa như Nam-Yết, Sơn-Ca, Song-Tử-đông, Song-Tử-tây, Trường-Sa v.v.., chúng ta đă không gặp một hành-động đối-kháng về quân-sự nào từ phía Trung-Hoa Dân-quốc hoặc Phi-Luạt-Tân hay Mă-Lai-Á.
Một suy-luận nữa là có thể trận hải-chiến là một cuộc điều-chỉnh sự nhường quyền chiếm-giữ từ một nhược-tiểu đến một cường-quốc theo một chiến-lược hoàn-cầu mà vài cường-quốc đă ngầm thỏa-thuận trước. Chúng ta có thể nhớ lại cuộc tấn-công hùng-hậu của Anh-quốc trong cuộc tranh-chấp đảo Falkland (Nam Mỹ-Châu) vào thập-niên 80, mà Á-căn-đ́nh (Argentina) vẫn luôn coi như lănh-thổ của họ. Họ đă chiến-đấu mạnh-mẽ trên mặt ngoại-giao và buộc phải chiến-đấu trên mặt quân-sự sau khi ngoại-giao thất-bại. Về mặt quân-sự, họ biết trước là khó chống lại Anh-quốc với lực-lượng khá dồi-dào, nhưng họ đă phải chiến-đấu trong khả-năng của họ, họ biết tự kiềm-chế cường-độ chiến-tranh để giảm-thiểu tổn-thất. Kết-quả là đảo Falkland đă về tay Anh-quốc. Tuy đảo Falkland rộng lớn hơn về diện-tích và nguồn-lợi cũng như dân-số, quân-lực hai đối-thủ đưa vào cuộc đụng-độ hùng-hậu hơn, mức-độ chiến-tranh nặng hơn, nhưng hai trận Falkland và Hoàng-Sa đă gần tương-tự nhau về tính-chất của một cuộc chiến.
Người Pháp, trong chiến-tranh tại Đông-dương sau 1945, v́ chiến-cuộc gia-tăng tại nội-địa, đă phải bỏ-ngỏ hoàn-toàn nhóm đảo Tuyên-đức phía bắc, và bỏ-ngỏ nhóm Nguyệt-thiềm phía nam trong vài năm. Riêng nhóm Tuyên-đức phía bắc đă do Trung-Hoa Dân-quốc cưỡng-chiếm trong ít lâu, nhưng sau đó họ đă phải rút về v́ sự thất-trận củu họ trong lục-địa. Về sau, hiệp-định Balê 1954 lại đề ra khu phi-quân-sự dọc theo vĩ-tuyến 17, đă làm cho Việt-Nam Cộng-Ḥa đă không thể tích-cực hiện-diện tại nhóm Tuyên-Đức bắc đảo Hoàng-Sa thuộc nhóm Nguyệt-thiềm.
Xét về sự pḥng-thủ, so sánh với đảo Thái-B́nh trong vùng Trường-Sa th́ thế bố-trí trên đảo Hoàng-Sa của VNCH đă thua kém rất xa, và không thể đủ sức để cố-thủ chống lại một cuộc cường-kích thủy-bộ. Trên đảo không có công-sự nặng, chỉ có khỏang một trung-đội địa-phương-quân với vũ-khí cá-nhân và một vài quan-sát viên khí-tượng. Trong khi đó Đảo Thái-B́nh, khi Nhật chiếm-đóng trong đệ-nhị thế-chiến, họ đă xây-cất nhiều công-sự nặng. Sau này khi Trung-Hoa dân-quốc (Đài-Loan) chiếm-đóng, chắc-chắn họ đă tăng-cường mọi cơ-cấu pḥng-thủ, lại có trang-bị các khẩu đại-pháo chống chiến-hạm, đưa quân-số trú-pḥng có thể tới cấp hơn tiểu-đoàn và do một vị Đại-tá Thủy-quân lục-chiến chỉ-huy.
Ngoài ra việc tuyên-bố chủ-quyền của Trung-cộng trên cả hai quần-đăo Hoàng-Sa và Trường-Sa được nhận-xét chỉ diễn ra sau cuộc thăm-viếng Trung-cộng của Ngoại-trưởng Hoa-Kỳ Kissinger. Ít nhất là Hoa-Kỳ và Trung-cộng đă ngầm có nhiều thỏa-thuận về chiến-lược hay ít nhất cũng đồng-ư là Hoa-kỳ sẽ không can-thiệp vào các hành-động của Trung-cộng trong vùng. Đối với Việt-Nam Cộng-Ḥa, Hoa-Kỳ đă không muốn can-dự vào sự bảo-vệ lănh-thổ. Trong ngày hải-chiến th́ các đối-tác-viên tại Bộ-Tổng-Tham-mưu đă khẳng-định đó là công chuyện riêng của Việt-Nam .
Quan-niệm của Hoa-Kỳ trong việc mở-rộng lưc-lượng Hải-quân chỉ là vừa đủ để hành-quân yểm-trợ hỏa-lực và ngăn-chặn trong vùng sông-ng̣i và duyên-hải mà thôi. Cộng-cuộc xây-cất một hệ-thống thám-báo liên-tục từ Bến-Hải đến Vịnh Thái-lan là một công-tác cao, cả về kỹ-thuật lẫn tài-chánh với mục-tiêu duy-nhất là kiểm-soát hữu-hiệu sự xâm-nhập lén-lút bằng đường-biển của cộng-sản Bắc-Việt vào vùng duyên-hải. Việc viện-trợ hai chiếc khu-trục-hạm, v́ là loại tấn-công, nên sau 1973 họ đă nhiều lần đ̣i tháo gỡ máy ḍ tiềm-thủy-đĩnh như đă tŕnh-bầy, làm như vậy là sẽ giảm khả-năng của loại này một nửa. Vũ-khí tấn-công trên mặt biển và trên không của khu-trục-hạm là hai dàn hải-pháo 76 ly tự-động với nhịp tác-xạ khỏang 60 viên một phút. Với hỏa-lực tấn-công mạnh-mẽ như vậy, Hải-quân Hoa-Kỳ, vào những năm cuối của cuộc chiến, song-song với kế-hoạch rút lui, đă không bỏ sót cơ-hội cắt đứt hay ít nhất cũng tŕ-hoăn việc tiếp-tế cơ-phận thay-thế cho loại hải-pháo tối-tân này.
Sau trận hải-chiến, để nêu gương hy-sinh của các chiến-sĩ bỏ ḿnh trên đại-dương, Bộ-Tư-lệnh HQ đă có nghiên-cứu một kiến-trúc dự-định xin phép Đô-thành Saig̣n Chợ-lớn xây cất trong khu-vực cột-cờ Thủ-Ngữ bên sông Sàig̣n. Riêng Hội-đồng Đô-thành đă đồng-ư trên nguyên-tắc là sẽ có một đường-phố mang tên Ngụy-văn-Thà. Một buổi lễ kỷ-niệm lần thứ nhất trận hải-chiến Hoàng-Sa đă được tổ-chức vào ngày 19 tháng giêng năm 1975 do Tư-lệnh Hải-quân, Đề-Đốc Lâm-ngươn-Tánh chủ-tọa nhưng tôi không được thông-báo để đến tham-dự.
Hàng năm cứ mỗi Tết nguyên-đán đến, dù vào tháng giêng hay không, tôi luôn luôn có ít phút tưởng-niệm dành cho các liệt-sĩ đă hy-sinh và cũng tưởng nhớ tới chiến-sĩ đă anh-dũng cùng tôi chiến-đấu trong trận-hải-chiến Hoàng-Sa, mà số đông đang lưu-lạc trong vùng đất tự-do. Họ là những anh-hùng đă xả-thân để bảo-vệ lănh-thổ của tiền-nhân xây-dựng từ bao thế-kỷ. Mong rằng tài-liệu này sẽ mang lại niềm hănh-diện cho toàn-thể các chiến-sĩ Hải-quân đă tham-dự trận đánh mà tôi đă có vinh-dự chỉ-huy.

Dallas, Texas , mùa Xuân Kỷ-Măo

Last edited by T́nh Quê; 03-17-2009 at 01:34 PM.
Reply With Quote
  #10  
Old 03-19-2009, 12:36 PM
T́nh Quê's Avatar
T́nh Quê T́nh Quê is offline
Người khách #2 của 2008 (top posters)
 
Join Date: Dec 2007
Posts: 1,275
Thanks: 0
Thanked 4 Times in 4 Posts
Default Re: Những chuyện không quên trước năm 75!

Mặt trận Quảng Trị


Lực lượng địch :

Để tấn chiếm Quảng Trị , mặt trận B5 CSBV đă tung ra một lực lượng tương đương 6 Sư đoàn gồm có :

* Sư đoàn 304 do Hoàng Đan chỉ huy, gồm 3 Trung đoàn 66, 24, 29 với sự yểm trợ của Trung đoàn 38 pháo, 4 Trung đoàn pḥng không 230, 232, 241 và 280, 2 Tiểu đoàn Hỏa Tiển, một Trung đoàn 202 chiến xa , và một Tiểu đoàn Công Binh tấn công vào mặt phía Tây Quảng Trị..

* Sư đoàn 308 do Phạm Hồng Sơn chỉ huy và Hoàng Minh Thi làm chính Ủy gồm 3 Trung đoàn 103, 88 và 57 được tăng cường hai Trung đoàn 48 và 27 Bộ Binh, Tiểu đoàn 15 biệt lập, Hai Trung đoàn Pháo 164 và 84, một Trung đoàn pḥng không, hai Trung đoàn chiến xa 203 và 204, hai Tiểu đoàn Công Binh, một Tiểu đoàn đặc công và 3 Trung đội Hóa Học tấn công từ hướng Bắc.

* Hai Tiểu đoàn Đặc Công 31 & 25 phối hợp với Tiểu đoàn 47 địa phương Vĩnh Linh và Đoàn Đặc Công Hải Quân 126 do Bùi Thúc Dương chỉ huy tấn công vào mặt phía Đông Cửa Việt, Gio Linh và Triệu Phong.

* Sư Đoàn 325, Sư Đoàn 320B và SĐ312 trừ bị ém quân tại biên giới Lào Việt.

* SĐ324B do Giáp Văn Cương chỉ huy và Lê Tự Đồng làm chính ủy với 3 Trung Đoàn 6, Trung Đoàn 803 và Trung Đoàn 29 thuộc mặt trận Thừa Thiên, di chuyển vào thung lủng Ashau áp lu75c mạnh trên thành phố Huế.

* 2 Trung Đoàn Biệt Lập 5 và 6 từ thung lủng Ashau ở phía Tây Trường Sơn tiến về đe dọa thành phố Huế và Đà Nẵng..

Lực lượng bạn :

Lực lượng VNCH có các đơn vị sau đây :

· SĐ3BB đóng tại căn cứ Ái Tử, do Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai làm Tư Lịnh.

- Trung Đoàn 2 đóng tại căn cứ Tân Lâm, A4 Cồn Thiện, Fuller C2 và C3.

- Trung Đoàn 56 đóng tại căn cứ Cam Lộ, Khe Gió và Carrol. (hay Tân Lâm là căn cứ hỏa lực lớn nhất tại vùng giới tuyến) .

- Trung Đoàn 57 đóng tại Căn cứ C1, A1, A2 và A3.

- Thiết Đoàn 11 Thiết Kỵ đóng tại Sharon.

· LĐ147 / TQLC đóng tại Căn cứ Hỏa lực Mai Lộc, Núi Bá Hộ, Holcomb và Sarge.

· LĐ258 / TQLC đóng tại căn cứ Hỏa lực Pedro, Anne, Janne và Barbara.

· Liên Đoàn 1 BĐQ gồm các Tiểu đoàn 21, 37 và 77.

· Liên Đoàn 4, 5 BĐQ tăng cường

· Trung Đoàn 4/SĐ2BB.

· Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh ,Thiết đoàn 17 (M113) và Thiết đoàn 20 (M48),

· Tiểu Đoàn 24 Địa Phương Quân + NQ

· 8 Tiểu Đoàn Pháo binh

· SĐ TQLC.: gồm 3 Lữ Đoàn do Chuẩn Tướng Bùi Thế Lân làm Tư Lệnh

· SĐND với 3 Lữ Đoàn do Trung Tướng Dư Quốc Đống làm Tư Lệnh.



Lịch sử Tỉnh Quảng Trị và Cổ Thành.


Tỉnh Quảng Trị phía Bắc giáp Quảng B́nh, phía Đông giáp Đông Hải, phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Tây là dăy Trường Sơn và nước Lào. Diện tích khoảng 4700 km2. Tỉnh lỵ Quảng Trị cách thành phố Huế 55 km (34 miles) và cách Sài G̣n 1227 km (767 miles) về hướng bắc.

Phía Đông Quảng Trị là đồng bằng hẹp, phía Tây là rừng núi thuộc Trường Sơn, chiếm gần hai phần ba diện tích tỉnh. Ba sông chính của tỉnh là Bến Hải, Cam Lộ và Sông Thạch Hàn. Sông Bến Hải phát nguồn từ dăy Trường Sơn ra đến biển ở cửa Tùng, dài 75 km (47 miles). Sông Thạch Hàn (c̣n gọi là sông Quảng Trị) chảy từ quận Hương Hóa và quận Cam Lộ, rồi đổ ra cửa Việt. Sông Cam Lộ (c̣n gọi là sông Bồ Điền) là con sông đào nối sông Bến Hải với sông Thạch Hăn, chảy qua hai quận Hương Hóa và Cam Lộ. Ngoài ra tỉnh c̣n có một số ḍng sông nhỏ như sông Mỹ Chánh, sông Nhung... Bờ biển Quảng Trị dài 66 km (41 miles), ngoại trừ vùng cửa Tùng lởm chởm đá, suốt bờ biển đều bằng phẳng và có nhiều cát, nên không lập được các hải cảng.

Đất Quảng Trị xưa đă là đất Lập Quốc của Việt Nam, một phần của bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Năm 1069, vua Lư Thánh Tông đánh Chiêm Thành và bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Chế Củ liền dâng ba châu Địa Lư, Ma Linh và Bố Chính (bây giờ là Quảng B́nh, Quảng Trị).

Năm 1306, Chế Mân dâng hai châu Ô, Lư làm sính lể để cưới Huyền Trân Công Chúa. Năm 1307, vua Trần Nhân Tông đổi Châu Ô làm Châu Thuận, Châu Lư làm Châu Hóa. Châu Thuận gồm đất Phong Điền, Triệu Phong, Hải Lăng Quảng Trị ngày nay.

Tháng mười năm Mậu Ngọ (1558), chúa Nguyễn Hoàng được vua Lê cử vào trấn đất Thuận Hóa, lập d́nh ở Ái Tử thuộc phủ Triệu Phong. Năm 1804. vua Gia Long đặt lại tên là dinh Quảng Trị. Tên Quảng Trị có từ đó. Năm 1831, Minh Mạng đặt làm trấn, sau đổi làm tỉnh. Đến đời vua Tự Đức cải làm đạo, nhưng lại đổi thành tỉnh vào năm 1876.

Trước năm 1975, Quảng Trị có các quận như Gio Linh, Trung Lương, Hương Hóa, Hải Lăng, Cam Lộ, Mai Lĩnh và Triệu Phong

Hơn hai thế kỷ trước, Cổ Thành Quảng Trị là thành lũy quân sự của nhà Nguyễn được xây cất từ đầu đời vua Gia Long (1802), tới năm 1827 vua Minh Mạng cho xây lại bằng gạch. Chu vi tường thành gần 2.000 m, cao 9,4 m, dưới chân dày 12 m, bao quanh có hệ thống hào, bốn góc thành là 4 pháo đài cao nhô hẳn ra ngoài. Trong những năm 1809-1945 nhà Nguyễn lấy làm thành lũy quân sự và trụ sở hành chính. Thành được xây theo lối kiến trúc thành tŕ Việt Nam với tường thành bao quanh h́nh vuông được làm từ gạch nung cỡ lớn; kết dính bằng vôi, mật mía và một số phụ gia khác trong dân gian như mủ cây Ô-Dước. Thành trổ bốn cửa chính Đông Tây Nam Bắc. Sau chiến dịch mùa "Hè đỏ lửa" 1972 toàn bộ Cổ Thành Quảng Trị gần như bị san phẳng; chỉ c̣n sót lại một cửa hướng Đông tương đối nguyên h́nh và vài đoạn tường thành cùng giao thông hào bên ngoài chi chít vết bom đạn





Phóng đồ mặt trận Quảng Trị ( do Trần Đổ Cẩm vẻ )

Để bảo vệ khu vực Quảng Trị. Quân Lực VNCH phối trí các đơn vị như sau: SĐ3BB tân lập trách nhiệm bảo vệ Quảng Trị. Tư Lệnh là Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai bản doanh Sư Đoàn đặt tại Ái Tử. Trung Đoàn 2, một Trung Đoàn cũ của SĐ1BB, đóng tại các căn cứ A4 hay là Cồn Thiện, Fuller, C2 và C3. Trung Đoàn 56 đóng tại các căn cứ Hỏa Lực Cam Lộ, Khe Gió, và Tân Lâm (Carroll). Trung Đoàn 57 đóng tại CCHL C1 ( Gio Linh), A1, A2 và A3 . Ngoài ra SĐ3BB c̣n được tăng phái 2 Lử Đoàn TQLC. Lữ Đoàn 147 TQLC đóng ở CCHL Mai Lộc, núi Bá Hộ, Sarge, Holcomb. Lữ Đoàn 258 đóng tại Pedro (Phượng Hoàng), Anne, Jane, Barbara . Hai Lữ Đoàn TQLC có nhiệm vụ trấn giữ mặt phía Tây của Quảng Trị.

Sư đoàn 3 bộ binh được thành lập ngày 1 tháng 10 năm 1971, có quân số vào khoảng 11.203 người. Trong các đơn vị cơ hửu, chỉ có Trung Đoàn 2 BB rất thiện chiến, v́ là một đơn vị tác chiến lâu đời của Sư đoàn 1 BB, lừng danh miền giới tuyến. Riêng hai trung đoàn 56 và 57 tân lập, mà quân số được bổ sung, từ các lao công đào binh,, quân dịch và các đơn vị ĐPQ + NQ Vùng 1 chiến thuật.. Sư đoàn cũng chưa có kinh nghiệm hành quân và tác chiến cấp vùng..



Diển Tiến :

Khởi động chiến dịch tại Quân Khu 1 VNCH, Tướng CSBV Vơ Nguyên Giáp xua 45.000 quân vượt qua sông Bến Hải với hằng trăm chiến xa, hằng trăm đại pháo và một lực lượng tương đương 6 Sư đoàn bộ binh tổng tấn công lấn chiếm tỉnh Quảng Trị, Ải địa đầu cực Bắc VNCH.. Đồng thời tung SĐ324B cùng 2 Trung Đoàn Biệt Lập 5 và 6 từ thung lủng Ashau ở phía Tây Trường Sơn tiến về đe dọa thành phố Huế và Đà Nẵng...

Ngày 30/3/1972 đúng 12 giờ trưa,lợi dụng cơ hội thay đổi vùng trách nhiệm của các Trung Đoàn 56 và Trung Đoàn 57 thuộc SĐ3BB. Bô đội CSBV bắt đầu pháo kích dữ dội vào các căn cứ trong vùng giới tuyến Carol, Mai Lộc, Sarge, núi Bá Hộ, Tân Lâm, Cồn Thiên, Đông Hà và Quăng Trị. Pháo binh cộng sản, với các loại đại bác ṇng dài 130 ly, cũng như hỏa tiển 122 ly tầm xa 27.5 km, từ Vĩnh Linh bên kia cầu Hiền Lương, đồng loạt bắn phá các căn cứ hỏa lực của VNCH, với mức độ tàn phá kinh khủng chưa từng có. Ngay lúc đó, cũng là thời gian hai Trung đoàn 2 và 56/SĐ3BB, đang hoán chuyển vùng, nên bị tổn thất nặng nề về nhân mạng, nhiều vị trí pḥng thủ bị bỏ ngỏ, đồng thời làm cho tinh thần binh sĩ, nhất là Trung đoàn 56 giao động mạnh. Sau đó, Cộng quân huy động các đơn vị chủ lực của 2 SĐ304 và 308 cùng 3 Trung Đoàn biệt lập của B5, một Trung Đoàn Đặc Công và 2 Trung Đoàn Chiến Xa 203 và 202 vượt khu Phi Quân Sư chia thành 4 mủi tấn công cường tập vào tuyến pḥng thủ của các đơn vị bộ chiến Việt Nam Cộng Ḥa đang trấn đóng các căn cứ tại phía Tây và Bắc Quảng Trị.

Các mũi tấn công đầu tiên nhắm vào các căn cứ của Trung Đoàn 2/3BB là Fuller và Cồn Thiên A4, hai mủi khác nhắm vào Trung Đoàn 57 tại các Căn cứ A1 và A2. Hai căn cứ hỏa lực lớn của SĐ3/BB và TQLC tại Carroll và Mai Lộc bị pháo kích nặng nề và liên tục, v́ thế không yểm trợ được cho quân bạn. Thời tiết trong mấy ngày đầu của cuộc chiến rất bất lợi cho các đơn vị VNCH. Trần mây thấp và mưa gió, phi cơ chiến thuật, quan sát và trực thăng tiếp tế tản thương VN và HK đă không thể hoạt đông hữu hiệu để yểm trợ đươc cho quân bạn.

Hỏa lực pháo binh CSBV đă gây tổn thất và kinh hoàng cho dân chúng thuộc 3 quận lỵ giới tuyến, khiến trên 50,000 đồng bào bỏ nhà cửa, chợ búa, ruộng vườn, đổ dồn ra quốc lộ 1 và 9 để chạy giặc về hướng thành phố Quảng Trị phía Nam.

Đến 6 giờ chiều ngày 30/3, hai vị trí của TĐ4/TQLC tại Núi Bá Hô và Sarge bị pháo kích trên 600 quả đại bác và hỏa tiễn đủ loại, 70 phần trăm công sự pḥng thủ bị phá hủy, nhiều quân sĩ tử thương và bị thương. Đến 10 giờ 45 đêm 31/3, địch quân tập trung tấn công biển người tràn ngập căn cứ Sarge. Đến 4 giờ sáng hôm sau ngày 1/4/1972, TĐ4/TQLC bị tổn thất nặng phải triệt thoái khỏi 2 cứ điểm Núi Bá Hô và Sarge, đến 6 giờ chiều ngày 2/4 gom về tập trung tại căn cứ Mai Lộc. Đây là 2 vị trí TQLC đầu tiên mất về tay quân CS trong 48 giờ đầu của cuộc tấn công.

Ngày 1/4/72, chiến trường càng trở nên sôi động. Dưới áp lực nặng nề của địch quân, 10 giờ 45 sáng, đơn vị tại căn cứ Cồn Thiên (A4) triệt thoái, 14 giờ 50 chiều, các căn cứ Fuller (thuộc Trung Đoàn 2/BB), Khe Gió (thuộc Trung Đoàn 57/BB) rút bỏ. Dân chúng chạy giặc, xe cộ và binh sĩ bỏ ngũ mang theo gia đ́nh, gây cản trở việc điều quân và lưu thông trên quốc lộ 9 và 1. Tiền sát pháo binh của CS trà trộn vào đám đông di tản để điều chỉnh pháo binh vào các vị trí QLVNCH.

Các căn cứ Đông Hà, Cam Lộ, Ái Tử bị pháo nặng, nhờ hải pháo của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ, từ ngoài khơi Quảng Trị, bắn vào yểm trợ, v́ thời tiết xấu nên không quân không thể yểm trợ hữu hiệu. Bởi vậy lần lượt các căn cứ hỏa lực A-1, A-2, A-3, A-4 do SĐ3BB trấn giữ, bị tấn chiếm. Trước áp lực quá mạnh của địch, BTL/SĐ3 dồn nỗ lực để gom quân và thiết lập hệ thống pḥng thủ mới dọc theo tuyến Cửa Việt, Đông Hà, Cam Lộ, Carroll, Mai Lộc và Phượng Hoàng. Hai căn cứ hỏa lực Carroll và Mai Lộc tiếp tục bị pháo kích nặng nề. Chiến xa CSBV trực tiếp tham chiến. Vào lúc 9 giờ sáng, một lực lượng chiến xa T-54 khoảng 20 chiếc từ hướng Bắc tiến về Đông Hà theo quốc lộ 1. Một lực lượng chiến xa lội nước PT-76 ở hướng Đông, dọc theo bờ biển tiến xuống hướng Cửa Việt. T́nh h́nh căng thẳng, TĐ3/TQLC được lệnh tử thủ Đông Hà "bằng mọi giá". Toán chống chiến xa trang bị đại bác 106 ly của TĐ6/TQLC từ Ái Tử được điều động lên tăng cường cho Đông Hà. Nhờ thời tiết tương đối tốt, phi cơ A-1 và A-37 của Không Quân VN bay lên oanh tạc chính xác vào 2 đoàn chiến xa địch, phá hủy 11 chiếc, 1 chiếc A-1 bị hỏa tiễn địa không SA-2 bắn rơi, phi công nhảy dù ra được, nhưng rơi về phía bắc cầu Đông Hà. Để đề pḥng chiến xa địch vượt qua cầu Đông Hà, vào 16 giờ 30 chiều cùng ngày, chiếc cầu này được giật xập, để ngăn cản kế hoạch của CSBV đưa bộ binh và chiến xa tiến xuống phía Nam.

Ngày 2/4/1972 BTL/SĐTQLC và Lử Đoàn 369 được không vận ra Huế để thiết lập tuyến pḥng thủ phía Bắc Sông Mỹ Chánh. TĐ7 TQLC được lệnh trấn giữ con đường huyết mạch QL số 1, từ Hải Lăng về Mỹ Chánh.

Trong ngày nầy, Cộng Sản cắt đứt QL9 từ Đông Hà đến Cam Lộ. Căn cứ Holcomb của TĐ8TQLC, bị SĐ304 tấn công tràn ngập lúc 12 giờ 30 khuya .

T́nh h́nh chiến sự rối loạn khắp nơi, cùng lúc đồng bào từ các quận Cam Lộ, Hương Hóa, Gio Linh, Đông Hà, bất kể Kinh hay Thượng, ùn ùn bỏ làng xóm, tài sản, kéo nhau chạy về thành phố Quảng Trị để trốn lánh chiến họa. Trên đường đào sanh, hằng ngàn người đă làm mồi cho đạn pháo binh và thiết giáp của bộ đội cộng sản BắcViệt, gây thêm rối loạn cho các đơn vị của ta, v́ vừa phải bảo vệ cho dân chúng, lại vừa chiến đấu với giặc trong cơn nguy ngập.. Đạn pháo của địch càng lúc càng dữ tợn, hung tàn, phá hết tất cả , không cần phân biệt xóm làng, dân lính, thành phố đông người. Do đó trong phút chốc, những khu đông dân như Cam Lộ, Đông Hà trở thành địa ngục trần gian đau khổ, mà không một ai, có thể ngờ tới, t́nh cảnh của dân chúng chạy loạn cũng vô cùng thê thảm , khiến cho các cấp chỉ huy của SĐ3BB và Tiểu Khu Quảng Trị, gần như bó tay, v́ không t́m ra kế hoạch nào, để ổn định t́nh thế.

Trong lúc đó căn cứ hỏa lực Carroll (Tân Lâm) của Trung đoàn 56 BB bị vây khổn, Cộng quân vẫn tiếp tục pháo kích dữ dội vào căn cứ nhưng không có quân tiếp viện. Đúng 14 giờ 30 chiều, Trung Tá Phạm Văn Đính Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 56/3BB , đă đầu hàng Cộng Sản cùng với 1,500 binh sĩ VNCH bị quân CS bắt giữ và 22 khẩu đại bác, trong đó có 4 khẩu đại bác 175 ly, 10 khẩu 105 ly của pháo đội TQLC, c̣n lại là pháo đội 155 ly và 105 ly của pháo binh QĐ1 và SĐ3/BB. Biến cố nầy xảy ra trong ngày 2/4, gây chấn động không ít đến tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ vùng giới tuyến.

Sau khi căn cứ hỏa lực Carroll thất thủ, căn cứ hỏa lực Mai Lộc, nơi đặt BCH của LĐ147/TQLC trở thành tuyến đầu, đă liên tục bị pháo kích và tấn công. Được lịnh tái phối trí, pháo đội 105 ly TQLC tại đây sau khi bắn hết đạn, đă được phá hủy bằng chất nổ. Đến 10 giờ tối, BCH/LD và TĐ4/TQLC triệt thoái khỏi Mai Lộc về Đông Hà. Sáng hôm sau, LĐ147/TQLC được lệnh di chuyển về Huế để bổ sung và tái trang bị.

Bộ Tư Lệnh SĐ3BB di chuyển Bộ Chỉ Huy tiền phương tại căn cứ Ái Tử bị pháo kích nặng nề, để lui về Quảng Trị. Trung đoàn 57 cũng được lệnh bỏ căn cứ Gio Linh, rút về bờ nam Đông Hà và LĐ258 với các Tiểu Đoàn 1,3 và 6 /TQLC được tăng cường thêm TĐ3PB/TQLC vẫn duy tŕ tại các căn cứ Ái Tử, căn cứ Phượng Hoàng và Đông Hà. TĐ7/TQLC đang trấn ngự tại QL1 được điều động ra tăng cường pḥng thủ căn cứ Ái Tử. ( như vậy là bỏ ngỏ QL1 từ Mỹ Chánh tới Cam Lộ)

Tính đến sáng ngày 3/4/1972, sau 4 ngày tấn công của quân CSBV, 11 căn cứ hỏa lực của QLVNCH tại giới tuyến đă thất thủ liên tiếp, mất đi 53 khẩu trọng pháo đủ loại làm cho Pháo Binh VNCH bị suy yếu, trên 7 ngàn binh sĩ tử thương, bị thương, bị bắt và thất lạc đơn vị.

Ngày 3/4, Bộ TTM không vận BTL/SĐ/TQLC, BCH/BĐQ và LĐ369/TQLC từ Sài G̣n ra tăng cường QĐ1. BTL/SĐTQLC đặt trong Thành Nội Huế. LĐ369/TQLC trừ bị và pḥng thủ tại các căn cứ Nancy, Jane, Evan và pḥng tuyến Mỹ Chánh, ranh giới giữa hai Tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên.

Các sư đoàn CSBV vẫn tiếp tục hướng các mũi tấn công váo Thị xă Quảng Trị, V́ Cầu Đông Hà bị giật sập, nên Cộng quân dùng cầu Cam Lộ để vượt sông. Họ chia quân ra làm 2 cánh: một cánh quân đi dọc theo QL9 tiến chiếm Đông Hà, Cửa Việt và theo QL1 tiến về hướng Nam . Một cánh quân khác tiến về hướng Nam, theo tỉnh lộ 558 và 557 qua những cứ điểm vừa chiếm như Carroll, Mai Lộc, Holcomb để tấn công căn cứ Phượng Hoàng và Thị xă Quảng Trị từ hướng Tây.

Ngày 4/4/1972 sau khi Lữ Đoàn 147/TQLC rút lui về Huế để chỉnh trang, như vậy về phía tây, chỉ c̣n có 1TĐ/BĐQ, trấn giữ căn cứ Phượng Hoàng, làm tiền đồn, bảo vệ thành phố.

Ngày 6/4/1972 lực lượng CS từ Ba-Ḷng phía Nam sông Thạch Hản tiến về uy hiếp Căn cứ Anne do một đơn vị thuộc Trung Đoàn 2/3BB trấn giữ. Căn cứ Anne được lịnh lui binh rút về Cam Lộ.

Ngày 8/4/1972, LĐ258 điều động TĐ3TQLC trấn đóng căn cứ Ái Tử thay thế TĐ6TQLC đến trấn giữ căn cứ Phượng Hoàng thay thế cho một TĐ/BĐQ.

Sáng ngày 9/4/1972 với chiến thuật tiền pháo hậu xung, sáng sớm hai Trung Đoàn cộng quân có chiến xa T54 yểm trợ tấn công căn cứ Phượng Hoàng. Pháo binh VNCH yểm trợ đúng lúc, Bộ Đội Cộng Sản chạy tán loạn,một số chiến xa cán phải ḿn bị nổ tung. Phi cơ Skyraider A1 can thiệp phá huỷ thêm nhiều chiến xa địch.

Hai Đại Đội / TĐ1TQLC cùng 1 chi đoàn chiến xa M48 và 1 chi đoàn Thiết Vận Xa M113 từ Ái Tử đến trợ chiến phá tan cuộc tấn công của địch. 400 xác cộng quân bỏ lại trận địa, 21 chiến xa T54 bị cháy, phần lớn do Không quân Việt-Mỷ oanh kích, băi ḿn cùng pháo binh. 2 chiếc bị bắt sống. Trước t́nh h́nh nghiêm trọng, Bộ TTM quyết định tăng cường Liên Đoàn 4 và 5 BĐQ cho Quân Đoàn I.





Mặt trận Quảng Trị 1972

Ngày 13/4/1972 Lữ Đoàn 258TQLC được điều động giữ tuyến pḥng thủ từ Ái Tử đến Phượng Hoàng. Từ Ái Tử lên mạn Bắc tới QL1, Đông Hà là vùng trách nhiệm của LĐ5BĐQ và Thiết Đoàn 17 Kỵ Binh. Từ Cam Lộ trở về dọc theo QL9 là tuyến án ngử của LĐ4BĐQ và Thiết Đoàn 20 Kỵ Binh. Trung Đoàn 2/BB trách nhiệm khu vực Nam Ái Tử đến bờ Bắc sông Thạch Hăn. Liên Đoàn 1/BĐQ pḥng thủ thị xă Quảng Trị, lập pḥng tuyến tại bờ Nam sông Thạch Hăn.

Ngày 14/4/1972 với sự yểm trợ hỏa lực của Mỹ, sự chiến thắng của LĐ/TQLC tại Pedro và sự tăng cường lực lượng của BĐQ, Tướng Hoàng Xuân Lảm đă mở cuộc hành quân Quang Trung 729 để tái chiếm vùng lảnh thổ bị mất về tay CS: Trung Đoàn 57BB pḥng giữ tuyến phía Bắc, trong khi các đơn vị BĐQ, TQLC và Thiết Giáp chỉa mủi dùi tấn công vào mặt phía Tây của Tỉnh Quảng Trị.

Chiến cuộc bùng nổ lớn, tất cả các cánh quân đều chạm địch Công quân đă chống trả và pháo kích nặng nề vào các đơn vị hành quân. Bởi vậy thay v́ quân ta tấn công, lại bị giặc đẩy ngược về phía thành phố. Trong số này, nguy khổn nhất là cánh quân của LĐ5 BĐQ và Thiết đoàn 20 chiến xa, tuy nhiên các đơn vị của QLVNCH vẫn c̣n giữ vửng đựợc các vị trí trách nhiệm.Do v́ việc tổ chức phối hợp không đồng bộ và pháo trận cường tập của đối phương khiến cho cuộc hành quân không hửu hiệu và c̣n làm suy yếu tiềm lực pḥng thủ sẵn có.

Ngày 18/4/1972 thất bại trong trận tấn công căn cứ Phượng hoàng, Cộng Sản Bắc Việt đă tung thêm quân áp lực nặng căn cứ này và bắt đầu phản kích lại.

Ngày 23/4/1972 bất chấp sự thiệt hại to lớn trong những ngày đụng dộ vừa qua với QLVNCH, Cộng sản Hà Nội vẫn điên cuồng tấn công khắp nơi bằng biển người, bất chấp sinh mạng con người, trong đó phần lớn là đồng bào chạy lánh nạn.Trong lúc đó khắp các nẽo đường Quảng Trị, càng lúc càng chết chóc thê thảm , bởi cảnh pháo kích bừa băi của cộng sản. Quảng Trị đă thật sự trở thành địa ngục trần gian thứ hai, sau địa ngục An Lộc.

Ngày 24/4/1972 Lử đoàn 147 TQLC với 2 TĐ4 và 8/TQLC và TĐ2/PB/TQLC sau khi được bổ sung và tái trang bị, đuợc lệnh trở ra Quảng Trị thay thế vùng trách nhiệm cũa LĐ258/TQLC phía Tây căn cứ Ái Tử và tiếp nhận thêm TĐ1/TQLC đang pḥng thủ tại Phượng Hoàng

Trong đêm nầy CS pháo kích làm cháy kho tiếp liệu của SĐ3BB tại La Vang , trong đó có kho xăng dầu và cả một đoàn xe tiếp tế quân trang quân dụng của Bộ Chỉ Huy 1 Tiếp Vận, từ Đà Nẳng tới.

Đêm 26/4, sau nhiều đợt pháo kích, SĐ304/CSBV cùng với chiến xa, đă mở nhiều mũi tấn công tuyến pḥng thủ của LĐ147/TQLC. Hai TĐ1 và 8/TQLC đẩy lui nhiều đợt tấn công, bắn cháy 12 chiến xa T-54. Ngày hôm sau, tuyến pḥng thủ của TQLC phải thu hẹp lại, chỉ c̣n cách Ái Tử từ 2 đến 3 cây số.

Ngày 27/4/1972 cộng quân tổng tấn công tất cả tuyến pḥng thủ của VNCH từ cửa Việt xuống đến căn cứ Phượng Hoàng. Tất cả ṇng súng đại pháo của quân Bắc Việt, đều tập trung vào tỉnh lỵ, căn cứ hỏa lực Ái Tử, các quận Mai Lỉnh và Hải Lăng. Đêm 27/4, pháo binh CSBV bắn trúng kho đạn Ái Tử, phá hủy phần lớn đạn dược dự trữ.

Ngày 28/4, Cộng quân pháo dữ dội vào tuyến pḥng thủ của Biệt Động Quân ở thị trấn Đông Hà, trong 2 ngày khoảng 7,000 quả đạn, đồng thời với chiến xa yểm trợ đă tấn công vào tuyến pḥng thủ của đơn vị nầy, Tiểu Đoàn 30/LĐ5BĐQ đă bắn hạ 13 chiến xa T54 và bắt sống một chiếc khác tịch thu hằng trăm vũ khí. Tuy nhiên LĐ/BĐQ và Thiết Đoàn 20 Kỵ Binh bị thiệt hại năng v́ pháo địch. Để bảo toàn lực lượng, các đơn vị nầy đă được lịnh triệt thoái để tăng cường bảo vệ pḥng tuyến căn cứ Ái Tử và pḥng thủ mặt Đông tiếp giáp với TĐ8/TQLC. Trong khi đó, Trung Đoàn 57/BB triệt thoái về Thị xă Quảng Trị. Trong đêm nầy cộng quân cũng tung chiến xa và bộ đội tràn qua cầu Ga Quảng Trị nhưng đă bị đẩy lùi.

Trong lúc đoàn người tị nạn thay v́ tâp trung tại Quảng Trị, lại ùn ùn tiếp tục bỏ chạy về Huế tị nạn, gây cảnh hổn loạn trên quốc lộ 1 và làm mục tiêu cho pháo binh cộng sản. Các cánh quân cũng bắt đầu náo động v́ vợ con tan tác chạy lánh nạn. Do đó nhiều đơn vị đă tự động di tản, làm cho Bộ Tư Lệnh SĐ3BB cũng là đầu nảo chiến trường, mất liên lạc với một số lớn đơn vị trực thuộc.

Trong đêm 29/4, địch liên tiếp pháo kích và tấn công vào pḥng tuyến của TQLC và Trung Đoàn 2/BB phía Tây và Tây Nam căn cứ Ái Tử. Sáng hôm sau, các chiến xa M-48 tăng phái cho BĐQ được điều động qua mặt trận phía Tây của TQLC. V́ thiếu phối hợp, lực lượng BĐQ nghĩ rằng, đơn vị thiết giáp bạn rút lui, nên cũng đă triệt thoái về Quảng Trị, chỉ c̣n lại LĐ 147/TQLC pḥng thủ căn cứ Ái Tử, 2 mặt Bắc và Đông bị bỏ trống. Trưa ngày 30/4, LĐ147/TQLC được lệnh rút khỏi Ái Tử về pḥng thủ thị xă Quảng Trị. Kế hoạch triệt thoái được thi hành tốt đẹp.

Trong khi đó ngày 28/4/1972 mặt trận B4 CSBV tại mật khu 611 tung SĐ324B gồm 2 Trung Đoàn 29 và Trung Đoàn 803 bao vây rồi tràn ngập căn cứ Bastogne ở phía Tây thành phố Huế do một Tiểu Đoàn của SĐ1BB trấn giữ. Trước áp lực quá nặng của CS căn cứ Checkmate gần đó được lịnh di tản. Đồng thời với việc tấn chiếm 2 căn cứ Bastogne và Checkmate, Trung Đoàn 66/304 CSBV cũng đang vân tập về vùng thung lủng Ashau để chuẩn bị tấn công Huế.

Trong ngày 30 tháng 4, thế trận pḥng thủ của lực lượng Việt Nam Cộng Ḥa tại Quảng Trị đă trở nên nguy ngập.Lúc 2 giờ sáng, cộng sản tấn công Trung đoàn 2/3BB và Thiết đoàn 17, tại căn cứ phía tây thành phố, trong lúc đó về phía bờ biển, cộng sản với bộ binh có chiến xa lội nước PT76, tấn công tràn ngập các Tiểu đoàn ĐPQ + NQ của Tiểu Khu Quảng Trị.

Last edited by T́nh Quê; 03-19-2009 at 12:37 PM.
Reply With Quote
Reply

Thread Tools

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off

Forum Jump


All times are GMT -7. The time now is 05:32 PM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.7
Copyright ©2000 - 2014, vBulletin Solutions, Inc.
Người Việt Năm Châu