Welcome to Người Việt Năm Châu. Chúc tất cả Anh Chị Em một ngày b́nh yên, may mắn và hạnh phúc... XIN ĐỪNG QUÊN: Hơn 80 triệu đồng bào VN đang bị nhốt trong cái nhà tù lớn mệnh danh XHCNVN của lũ quốc tặc Việt cộng ...

Trang Chính Diễn Đàn About NVNC Một Góc Phố Một Góc Phố US MGP phpBB Lư Lạc Long
Pḥng Phát Thanh VietKey Online NVNC Làm Quen Cyber Cafe Văn Học Nghệ Thuật Xă Hội Tin Tức Thời Sự
Go Back   NGƯỜI VIỆT NĂM CHÂU > 3. NGHỆ THUẬT > Góc Khoa Học - Tâm Linh - Phong Thủy > Thế Giới Tâm Linh
FAQ Members List Calendar Mark Forums Read

Thế Giới Tâm Linh Những câu chuyện về tâm lư siêu h́nh mà khoa học vẫn chưa giải thích được

Reply
 
Thread Tools
  #1  
Old 07-24-2009, 02:16 AM
Aquamarine's Avatar
Aquamarine Aquamarine is offline
Spiritual awareness
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 2,295
Thanks: 2
Thanked 9 Times in 9 Posts
Default Lâu đài cổ xưa - H.P. Lovecraft

Nguồn : vietshare



Lâu Đài Cổ Xưa


H.P. Lovecraft


Dịch giả : ?













Những lời đồn về ma quỷ, xương người và tử khí bốc lên ở toà lâu đ ài cổ của ḍng họ khiến tác giả - người đại diện cuối cùng của một ḍng họ quư tộc quyết tâm chứng minh về danh dự thanh bạch của tổ tiên. Tôi đă cùng một nhóm nhà khoa học nổi tiếng lao xuống tầng ngầm - một tử địa khủng khiếp từ thời hoang sơ để rồi chạm trán với những điều kinh dị và điên loạn...


Sau khi công việc phục hồi, sửa sang hoàn tất, tôi vội đến Exhem Prairie vào ngày 16 tháng 7 năm 1923. Việc sửa chữa thật tuyệt vời và kỳ vĩ.


Toà lầu đ ài ấy là nơi tổ tiên tôi được sinh ra và lớn lên, v́ thế tôi không hề tính toán khi bỏ tiền xây dựng lại. Không c̣n ai sống ở đấy nữa suốt từ thời bi kịch khủng khiếp đổ ập xuống gia đ́nh ngài James trưởng họ, khi ông chủ nhân cùng năm người con và một vài gia nhân đă chết đột ngột. Thành viên duy nhất trong gia đ́nh c̣n sống là người con thứ ba của vị nam tước - cụ tổ trực tiếp của tôi. Ông đ ành phải rời khu nhà này v́ kinh sợ và có mục đích khác là tránh mọi nghi hoặc.


Sau khi người con trai thứ ba của vị nam tước bị coi là kẻ giết người th́ lâu đ ài ấy đă bị triều đ́nh tịch thu. Nhưng người con trai thứ đó không muốn bào chữa hay đ̣i lại tài sản ǵ hết. Sự kinh hoàng c̣n lớn hơn cả những ǵ thuộc về lương tâm cắn rứt hay pháp luật gây ra, ông chỉ có một khao khát duy nhất là sẽ chẳng bao giờ phải nh́n thấy toà lâu đ ài ấy nữa. V́ thế, Walter de la Power, vị nam tước thứ mười ba của ḍng họ ở Exhem đă biến sang vùng Virginia.


Lâu đ ài Exhem Prairie bị bỏ hoang không ai cư ngụ. Măi về sau mới được sáp nhập vào đất đai của gia đ́nh ḍng họ Norris. Lâu đ ài đă thu hút sự quan tâm của các nhà bác học đến nghiên cứu v́ kiến trúc phức tạp của nó: đấy là những ngọn tháp kiểu gô-tích trên khung nhà kiểu Xắc-xông và La-mă với nền móng c̣n xưa hơn nữa, có lẽ từ thời Đạo giáo hay Kumbơ. Cái móng này vô cùng độc đáo, một bên nó gắn chặt vào bờ đá vôi cao trên sườn núi, nơi có một tu viện cổ hướng ra vùng thung lũng vắng vẻ cách làng Ankester ba dặm về phía Tây.


Nếu kiến trúc xa xưa ấy đă cuốn hút các nhà kiến trúc và địa chất bao nhiêu th́ dân địa phương càng căm ghét nó bấy nhiêu. Sự căm thù đó nảy sinh từ thời tổ tiên tôi c̣n sống ở đây và đến giờ nó vẫn chưa nguội lạnh. Tôi ở Ankester chưa trọn một ngày th́ đă nghe người ta kháo nhau rằng tôi là người có nguồn gốc sinh ra từ lâu đ ài đáng nguyền rủa ấy. Vào tuần này, công nhân đă phá lâu đ ài Exhem Prairie và hiện họ đang san bằng đống đổ nát. Tôi luôn h́nh dung rơ về phả hệ của gia đ́nh và cũng biết chính xác việc ông tổ Mỹ của tôi đă rời quê cha đất tổ trong những hoàn cảnh lạ lùng như thế nào. Song tôi không biết rơ chi tiết v́ từ lâu gia đ́nh vẫn giữ truyền thống im lặng về quá khứ. Toàn bộ giấy tờ liên quan đến lịch sử gia đ́nh đều được cất giữ trong một phong b́ niêm kín, nó được người cha chuyển cho con trai trưởng từ trước thời nội chiến với lời dặn chỉ được bóc sau khi ông qua đời. Mọi niềm tự hào đều có ngay tại đất Mỹ và ḍng họ De la Power ở Virginia luôn được xă hội tôn trọng, dù người ta biết rằng họ nhà tôi kín đáo và ít cởi mở.


Ḍng họ tôi bị chao đảo từ thời chiến tranh, khi trang ấp của ḍng họ tôi là Carfax trên bờ sông James bị đốt cháy. Vào cái thời loạn lạc kinh hoàng ấy, người ông của tôi bị chết cho nên chiếc phong b́ chứa mọi quá khứ ḍng họ cũng biến mất cùng với cụ.


Chiến tranh chấm dứt, tất cả chúng tôi chuyển lên quê mẹ tôi ở miền Bắc. Tôi đă sống ở đó đến khi đứng tuổi và trở thành một người Mỹ điển h́nh. Cả cha tôi và tôi, không ai biết ǵ về nội dung đựng trong chiếc phong b́ của ḍng họ gia đ́nh. Khi ấy tôi mải lo kinh doanh ở Massachusetts và chẳng c̣n chút hứng thú nào về bí mật lịch sử của gia đ́nh ḿnh. Nếu tôi nghi ngờ ḍng họ đă dính dáng đến điều ǵ xấu xa th́ có lẽ tôi cảm thấy sung sướng để từ bỏ lâu đ ài Exhem Prairie, mặc cho khu này làm tổ của bầy dơi và phong rêu phủ kín.


Năm 1904, cha tôi qua đời và chẳng để lại chúc thư cho tôi lẫn con trai duy nhất của tôi là Alfred. Chính thằng bé đă làm thay đổi cung cách lưu truyền của truyền thống gia đ́nh. Tôi cho nó biết về những phỏng đoán chưa nghiêm chỉnh hay đúng đắn về lịch sử ḍng họ nhà tôi. Nhưng trong thời chiến nó trở thành sĩ quan không quân và đóng quân ở Anh quốc. Nó đă viết thư kể tôi nghe một số truyền thuyết thú vị có liên quan đến gia đ́nh tôi. Thế là cậu con trai tôi đă biết được ḍng họ De la Power có một quá khứ huy hoàng và khá tàn bạo từ những chuyện của người bạn Edward Norris, vốn là đại uư trung đoàn không quân hoàng gia.
Cậu là sống gần ngay cạnh toà lâu đ ài ḍng họ nhà tôi ở làng Ankexter. Những huyền thoại và mê tín của nông dân vùng này thật thiên h́nh vạn trạng và kỳ lạ đến mức có thể theo đó mà viết thành tiểu thuyết. Dĩ nhiên Norris không coi những chuyện lạ thường đó là nghiêm túc, nhưng con trai tôi lại rất quan tâm đến chúng và rồi nó kể lại cho tôi nghe. Chính những chuyện huyền hoặc này đă tạo ra sự quan tâm của tôi đối với nguồn gốc ḍng họ. Cuối cùng tôi quyết định phục hồi và sửa chữa toà lâu đ ài cổ kính mà đại uư Norris đă chỉ cho Alfred xem, tôi đă đề nghị bác của cậu Norris - người sở hữu toà lâu đ ài lúc bấy giờ - cho chuộc lại với một số tiền tương đối.


Năm 1918 tôi mua khu Exhem Prairie nhưng mọi kế hoạch sửa chữa bảo tồn phải gác lại v́ con trai tôi từ mặt trận trở về với thương tật. Suốt hai năm sau tôi luôn chăm nom sức khoẻ cho nó đến mức thậm chí c̣n giao việc quản lư công việc cho những người khác trong nhà.


Năm 1921 tôi c̣n lại một ḿnh sau cái chết của con trai tôi, không mục đích, không công việc khi tuổi già ập đến. Thế là tôi quyết định dành những năm cuối đời để sửa chữa khu nhà tôi vừa mua. Vào tháng chạp, tôi đi Ankexter và làm quen với đại uư Norris, một chàng trai tính t́nh dễ thương, tràn trề sinh lực. Cậu ta đánh giá rất cao về con trai tôi. Cậu giúp tôi thu thập truyền thuyết và lập kế hoạch sửa chữa. Thật ra khu Exhem Prairie chẳng gây ấn tượng ǵ đặc biệt với tôi - nó chỉ c̣n là một đống đổ nát phủ đầy rêu, đầy những tổ quạ, là những ngọn tháp với các bức tường trơ trụi gạch, không có sàn nhà tử tế với vật dụng cần thiết bên trong. Tất cả chúng như đứng trên mép bờ vực của tàn lụi.


Nhưng dần dần trước mắt tôi hiện lên h́nh hài một toà nhà tráng lệ của tổ tiên tôi cách đây ba trăm năm. Tôi bắt đầu hối thúc công nhân sửa chữa và chạm trán ngay với nỗi kinh hoàng xa xưa cùng mối căm ghét của nông dân vùng Ankexter. Sự kinh sợ và hiềm thù ấy dành cho cả toà lâu đ ài lẫn gia đ́nh ḍng họ tôi thời xưa và chúng mạnh đến mức lây sang những công nhân được thuê từ nơi khác tới và họ bỏ đi.


Con trai kể rằng khi nó tới Ankexter người ta xa lánh, tránh né nó chỉ v́ nó mang họ De la Power. Giờ th́ tôi cảm nhận rơ điều đó ngay với bản thân ḿnh, do đó tôi đă đi thuyết phục đám nông dân rằng tôi hầu như chẳng c̣n liên quan ǵ đến tổ tiên của tôi cả. Nhưng sau đó họ vẫn tiếp tục không mấy thiện cảm ǵ với tôi, và tôi phải thu thập mọi truyền thuyết của họ bằng cách thông qua Norris mà thôi. H́nh như người ta không muốn tôi sửa chữa toà lâu đ ài mà họ vốn coi như hang ổ của quỷ dữ và phù thuỷ.


Sau khi phân tích những truyền thuyết do Norris cung cấp và báo cáo của các nhà khoa học, tôi kết luận: Exhem Prairie hiện ở trên một khu vực đền đ ài rất cổ xưa của thời kỳ đạo giáo (Druidism) hay tiền đạo giáo. Nơi mà người ta nghi rằng đă hoàn tất những lễ nghi rùng rợn nhất, và có lẽ sau đó đă nhập vào nghi lễ sùng kính thần, bà mẹ vĩ đại Kibela do người La Mă đưa tới.

Trên lớp gạch xây ngầm dưới đất những ḍng chữ c̣n được giữ lại: "Mẹ ... thiêng... liêng vĩ đại... sáng ta...", điều này chứng tỏ về tục sùng bái Bà mẹ vĩ đại mà người ta đă không thể cấm các công dân La Mă tuân theo. Các cuộc khai quật minh chứng rằng Ankexter là trại quân của đội binh thứ ba của hoàng đế Augustin. Tại đây đền thờ Đức Mẹ vĩ đại rất được sùng chuộng và luôn có đông khách hành hương với vô số nghi lễ qua sự chỉ đạo của quan tư tế người xứ Frigi.

Truyền thuyết kể rằng sự suy yếu của tôn giáo cũ không hề làm ngưng những cuộc tế lễ Tửu thần trong lâu đ ài, c̣n các quan tư tế đă chuyển sang một đức tin mới mà không hề thay đổi nếp sống của ḿnh. Những cuộc hành lễ bí mật vẫn tiến hành và sau khi nền thống trị của La Mă cáo chung, một số người Xắc-xông đă dựng lại ngôi đền bị phá. Họ lập nên ở đây một trung tâm thờ phụng.

Khoảng gần năm 1000 trước công nguyên, Exhem Prairie được nêu lên trong biên niên sử như là một lâu đ ài được một khu vườn lớn bao bọc không cần rào chắn. Toà lâu đ ài này thuộc về một ḍng tu bí ẩn và đầy quyền năng. Nó không bị người Viking phá huỷ, nhưng sau cuộc chinh phục của người Nọt-măng th́ có lẽ nó lâm vào t́nh trạng hoang tàn. Dù thế nào đi nữa th́ năm 1261, Henrik đệ Tam đă ban tặng toà lâu đ ài cho tổ tiên tôi là đức ông Hilbert de la Power, vị nam tước Exhem đầu tiên.


Trước năm đó, thanh danh ḍng họ gia đ́nh tôi rất trong sáng, nhưng về sau có chuyện ǵ đó xảy ra. Trong sử biên niên năm 1307 có nêu tên một ngài De la Power "bị Thượng đế nguyền rủa", c̣n trong các truyền thuyết dân gian th́ toà lâu đ ài xây cất tại nơi có ngôi đền ngẫu tượng giáo khét tiếng là khủng khiếp và ghê gớm. Những truyền thuyết này đă tạo nên mối kinh hoàng đầy mê tín và càng được thổi phồng dưới áp lực của bao chuyện đầy âm mưu đen tối. Chúng cho thấy tổ tiên ḍng họ tôi là con đẻ của quỷ sứ mà trong số đó, hầu tước de Sad và Gile de Rext chỉ là những đứa trẻ vô tội, và tổ tiên tôi được gán cho cái tội dính dáng đến sự biến mất của nhiều người suốt vài thế hệ.


Ô danh nhất chính là các ngài nam tước cùng những người kế vị trực tiếp của họ. Nếu một chủ nhân nào đó của toà lâu đ ài có đức tính thẳng thắn th́ chắc chắn họ phải chầu trời bằng cái chết mau chóng không giải thích được, để rồi một kẻ độc ác thế chỗ họ. Dường như các ngài nam tước Exhem này có một tục thờ phụng bí ẩn của riêng ḍng họ, thậm chí không cho tất cả mọi thành viên trong gia đ́nh biết và chỉ do người trưởng tộc điều khiển.

Một chuyện nữa khiến tôi đau ḷng là những điều x́ xào về những tiếng kêu gào than khóc ngoài thung lũng vắng vẻ lạnh lẽo dưới ghềnh đá vôi, về mùi thối rữa bốc lên từ đó sau những cơn mưa, về khúc xương trắng lọt dưới chân ngựa của ngài John Clive và về gă gia nhân hoá điên sau một lần nh́n xuống tầng hầm toà lâu đ ài cổ. Đúng là những chuyện cổ tích kinh sợ song tầm thường v́ khi đó tôi là kẻ hoài nghi. Thật khó bác bỏ câu chuyện về những người nông dân mất tích, mặc dầu vào thời trung cổ chuyện này không phải hiếm thấy.


Một số truyền thuyết kỳ lạ đến nỗi tôi lấy làm tiếc v́ thời trẻ ḿnh lại chưa học môn thần thoại đối chiếu so sánh. Chẳng hạn, một truyền thuyết giải thích những vụ thu hoạch rau quả bội thu trong các khu vườn trong lâu đ ài là do chúng là đồ ăn cho lũ dơi phù thuỷ mà cứ thứ bảy lại kéo lũ về đây tụ hội. Nhưng kỳ lạ hơn hết là chuyện kể về lũ chuột cống. Một lần, cả một bầy bẩn thỉu những con vật gớm ghiếc ấy chạy ào ra khỏi lâu đ ài và trên đường chúng nghiến ngấu chén sạch cả gà, mèo, chó, lợn sữa, cừu. Sự điên cuồng của chúng chỉ dịu đi sau khi chúng cắn chết hai nông dân. Việc đó xảy ra và chỉ ba tháng sau những người cuối cùng cư ngụ tại lâu đ ài ra đi.


Ngày 16 tháng sáu năm 1923 tôi chuyển nhà, cùng định cư với tôi trong lâu đ ài là bảy gia nhân và con mèo già tuổi nhất tên là Niggerman mà tôi mang theo từ Massachusetts, c̣n những con khác tôi mua được lúc sống ở nhà đại uư Norris khi công việc sửa chữa đang tiến hành.


Chúng tôi sống yên ổn, thoải mái trong năm ngày đầu. Sau đó con mèo già có tính phớt lạnh của tôi tỏ ra lo lắng, bồn chồn một cách lạ lùng. Nó luôn hốt hoảng nhảy từ pḥng này sang pḥng khác và thường xuyên đánh hơi cái ǵ đó. Hôm nay tại pḥng làm việc trên tầng hai có ṿm cung cùng các bản tường bằng gỗ sồi màu thẫm và chiếc cửa sổ kiểu gô-tích ba cánh trổ ra phía thung lũng vắng lặng dưới ghềnh đá, tôi tiếp một gia nhân vừa tới than phiền rằng tất cả lũ mèo trong nhà có hành vi bất thường lo lắng. Tôi lập tức nhớ tới việc con Niggerman già đă rón rén ḅ dọc bức tường phía tây và lấy vuốt cào những bản gỗ mới lát phủ bức tường đá cũ.


Tôi đáp lời gia nhân rằng có thể lớp đá xây dưới các bản gỗ lát toả một thứ mùi mà người không ngửi được nhưng lại tác động đến khứu giác thính nhạy của mèo. Thực tế tôi đă nghĩ như vậy và khi gă gia nhân nói có thể có chuột nhắt hay chuột cống th́ tôi bảo suốt ba trăm năm nay ở đây không có chuột, thậm chí đến chuột đồng cũng không thể lọt vào đấy được. Vào hôm ấy tôi ghé qua nhà đại uư Norris nói chuyện và chàng khẳng định với tôi rằng quả sẽ là chuyện kỳ lạ một khi chuột đồng lại lọt được vào toà lâu đ ài bằng đá xây này.


Buổi tối sau khi nói chuyện với gia nhân như thường lệ, tôi bước vào pḥng ngủ ở ngọn tháp phía tây mà tôi đă tự chọn cho ḿnh. Một chiếc cầu thang bằng đá có từ xa xưa và một hành lang ngắn được trần thiết lại chạy từ pḥng làm việc dẫn vào pḥng ngủ. Pḥng ngủ này h́nh tṛn, có trần cao, bốn bức tường có lát gỗ và được trang trí bằng các tấm thảm treo tường tự tay tôi chọn mua ở Luân Đôn.


Sau khi cho con mèo Niggerman vào pḥng, tôi đóng lại chiếc cửa ra vào kiểu gô-tích và nặng nề, cởi quần áo dưới ánh sáng ngọn đ èn điện bé xíu giả làm ngọn nến, đoạn tắt đ èn và nằm xuống chiếc giường có mùng, chú mèo Niggerman th́ cuộn tṛn dưới chân. Tôi không buông mùng mà cứ nằm, mắt nh́n qua khe cửa sổ nhỏ hẹp: ánh hoàng hôn trên trời tắt dần, những nét trang trí hoa văn cửa sổ qua lớp rèm nom thật xinh xắn.


Có thể tôi đă thiếp đi bởi v́ tôi nhớ tiếng động bất th́nh ĺnh do cú nhẩy của con mèo gây ra đă khiến tôi choàng tỉnh. Trong thứ ánh sáng mờ nhạt tôi thấy h́nh bóng con mèo: đầu vươn về phía trước, hơi chân trước hơi khom lại, hai chân sau duỗi thẳng nom căng thẳng lắm. Nó nh́n chằm chằm vào đâu đó trên tường ở mé tây cửa sổ đó, nhưng dần dà sự chú ư của tôi đă tập trung vào cái điểm đó.


Nh́n chăm chú một lúc tôi hiểu rằng chẳng phải vô cớ mà con mèo đă tỏ ra lo lắng đến thế. Tôi có cảm giác những tấm thảm trên tường lay động, nhưng tôi không thể khẳng định chắc chắn về điều này. Điều tôi dám chắc là việc sau các tấm thảm tôi nghe thấy tiếng ồn ào khe khẽ giống như chuột nhắt hay chuột đồng vừa chạy vừa kêu. Một giây sau đó, con mèo nhảy lên một tấm tranh thảm và giật nó rơi xuống sàn làm lộ mảng tường cũ mà trên lớp vữa mới trát không hề có dấu vết con chuột nào hết.


Con Niggerman cứ dùng móng vuốt cào tấm thảm, thỉnh thoảng cố tḥ chân vào giữa ngách tường và sàn lát gỗ sồi, vừa đưa chân vừa chạy dọc bức tường. Nó chẳng t́m thấy ǵ mà miễn cưỡng trở lại giường với tôi. Suốt thời gian đó tôi không rời khỏi chỗ, nhưng rồi sau đó tôi chẳng hề ngủ được.


Sáng ra tôi hỏi tất cả mọi gia nhân, nhưng chẳng ai thấy điều ǵ lạ cả, chỉ có chị bếp nhớ rằng một con mèo cái ngủ trong buồng chị ta trên bậu cửa sổ bỗng nhiên rú lên đánh thức chị dậy rồi sau đó nó nhảy vọt ra cửa ra vào không khép và lao xuống cầu thang.

Tôi ngủ gật cho đến bữa trưa, rồi sau đó lại nhà đại uư Norris. Chàng ta rất quan tâm đến chuyện tôi kể. Những điều xảy ra tuy nhỏ nhặt, nhưng thật lạ lùng đă thức tỉnh trí tưởng tượng của chàng, và lập tức Norris nhớ lại số điều mê tín huyền bí ở vùng này. Dựa vào chúng, Norris đưa tôi thuốc bả chuột và cái bẫy chuột và khi về đến nhà tôi liền đưa các gia nhân đặt thuốc chuột và các bẫy chuột ở trong lâu đ ài.


Tôi đi ngủ và mau chóng thiếp đi, nhưng chẳng bao lâu tôi tỉnh dậy v́ một cơn ác mộng. Từ trên rất cao tôi nom xuống một cái hang nửa sáng nửa tối, nơi đây bùn ngập đến đầu gối, một gă quỷ chăn lợn có cḥm râu trắng đang lùa những con vật ǵ đó nhún nhùn bị thối rữa mà bộ dạng của chúng làm cho tôi ghê tởm không sao tả xiết. Sau đó gă dừng lại gật đầu với ai đó. Thế là một đ àn rất đông chuột cống lăn từ mép vực xuống để ăn thịt nghiến ngấu cả gă râu trắng lẫn những con thú kia.


Những chuyển động của con Niggerman đă thức tôi dậy. Tôi lập tức thấy v́ sao nó uốn cong lưng ư ử, dùng vuốt cào chân tôi. Khắp nơi đều nghe thấy tiếng những con chuột cống to, đói chạy khắp lâu đ ài. Trời tối như mực, v́ thế trong bóng tối tôi không thể nh́n rơ các bức tranh thảm có lay động không, v́ vậy tôi bật đ èn lên.


Khi bóng đ èn sáng th́ tôi thấy các tấm thảm đung đưa khiến cho những tua viền độc đáo rung rinh tựa hồ vũ điệu của thần chết. Nhưng rồi cả sự rung rinh lẫn mọi tiếng động chấm dứt ngay. Nhảy từ trên giường xuống, tôi với lấy tay nắm túi chườm nóng dùng than và dùng nó để chọc sâu vào đằng sau các tấm tranh thảm và nhấc một cái lên. Ở đấy chẳng có ǵ cả chỉ một bức tường trát vữa, và thậm chí con mèo cũng thôi cái vẻ căng thẳng. Tôi xem xét cái bẫy chuột được đặt trong pḥng. Nắp bẫy sập xuống nhưng bẫy rỗng không: thậm chí một chút xíu lông cũng không thấy.


Giờ th́ chẳng c̣n nói ǵ tới việc ngủ nghê nữa, v́ vậy tôi cầm cây nến đi cùng con mèo theo hành lang tới chỗ cầu thang dẫn xuống pḥng làm việc của tôi. Nhưng khi chúng tôi vừa bước đến các bậc thang đá th́ con Niggerman vọt lên trước và biến mất. Khi tôi bước vào pḥng làm việc th́ lập tức nghe thấy những âm thanh mà không thể lẫn lộn với bất cứ cái ǵ.


Những tấm ván lát gỗ sồi vọng lên tiếng đ àn chuột kêu, c̣n con Niggerman lao tới lao lui với vẻ cuồng nhiệt của gă thợ săn bị mất con mồi. Tôi bật đ èn, nhưng lần này tiếng động không chấm dứt. Bọn chuột tiếp tục tṛ nghịch của chúng và ầm ầm với sức mạnh đến mức tôi có thể xác định được hướng chung trong cuộc di chuyển của chúng. Quả là đang diễn ra cuộc chuyển dịch khổng lồ của đám sinh vật này từ đâu đó bên trên xuống tầng hầm hoặc c̣n sâu hơn nữa.


Tôi nghe thấy tiếng chân bước ở hành lang, cửa mở ra và hai gia nhân xuất hiện. Hoá ra là tất cả những con mèo c̣n lại bỗng nhiên đều gầm gừ và cong lưng lên rồi sau đó chúng lao xuống cầu thang và bây giờ đang meo meo và cào cào vào các cửa ra vào dẫn xuống tầng hầm. Tôi hỏi xem hai gia nhân kia có nghe thấy chuột không th́ họ lắc đầu. Tôi bảo họ để ư đến tiếng sột soạt nhưng lập tức nhận ra là đă im ắng.


Hai gia nhân đi kèm tôi xuống cửa tầng ngầm nhưng lũ mèo đă tản mát đi hết cả. Tôi bèn quyết định xem xét tầng hầm sau, hiện thời chỉ xem các bẫy chuột thôi. Tất cả các bẫy đều sập nhưng không có con chuột nào mắc bẫy cả. Tôi cứ ngồi vậy đến sáng trong pḥng làm việc rồi thiếp đi một lúc đến trưa trong chiếc ghế bành ở thư viện, chính việc đặt cái ghế bành này đă làm hỏng đi nội thất Trung cổ. Sau đó tôi điện thoại cho đại uư Norris để chàng đến và giúp xem xét việc tầng hầm.


Chúng tôi chẳng thấy có ǵ lạ cả ngoài việc cảm thấy xao xuyến với cảnh khu hầm mộ có lẽ được xây lên bởi cánh tay người La Mă. Những cái ṿm thấp và những chiếc cột dày đúng kiểu La Mă chứ không giống những công tŕnh thô mộc của người Xắc-xông. Trên các bức tường là rất nhiều những ḍng chữ đă được các nhà khảo cổ mô tả, chẳng hạn: "Nhà vua... thời... chống... Pontific... xứ Atis..." Khi thấy ḍng chữ về Atis tôi bất giác giật ḿnh nhớ lại rằng tôi đă đọc tác giả Katulla về những lễ nghi khủng khiếp dâng lên vị thần phương Đông này. Sự cúng tế vị thần ấy đă hoà trộn với sự sùng kính Đức mẹ vĩ đại Kibela. Dưới ánh sáng đ èn pin, tôi và Norris chẳng có ǵ thành công đặc biệt khi cố gắng lư giải những bức vẽ đă bị mờ phần nửa trên những khối đá vuông từng được dựng làm bàn thờ. Chúng tôi bỗng nhớ lại là có một h́nh vẽ Mặt trời với các tia sáng đă được các nhà khoa học xác định niên đại vào thời kỳ trước La Mă. Thế có nghĩa là các bàn thờ đă được các quan tư tế La Mă lấy từ khu đền thờ cổ xưa hơn của dân địa phương ở chỗ này. Những vết màu nâu trên một bàn thờ đă thu hút sự chú ư của tôi. Trạng thái bề mặt của bàn thờ lớn nhất trong số đó đă cho thấy người ta đă đốt lửa trên đó: Có lẽ vật hiến tế, nạn nhân đă bị đốt cháy ở đấy.


Tôi với Norris quyết định qua đ êm ở trong hầm mộ này nơi lũ mèo đă cào cửa. Gia nhân đă khiêng mấy cái đi văng xuống và họ được ra lệnh không được chú ư đến cuộc di chuyển của đ àn chuột lúc ban đ êm. Con Niggerman được chúng tôi mang theo v́ tin tưởng vào sự thính nhạy của nó. Chúng tôi khép cánh cửa gỗ sồi nặng nề lại, châm đ èn và chờ đợi.


Tầng ngầm rất sâu v́ móng của nó có lẽ ăn sâu thậm chí vào cả núi đá vôi với ghềnh đá lơ lửng trên khu thung lũng hoang vắng. Tôi không hồ nghi việc lũ chuột không biết từ đâu tới đă lùng sục lao tới chính nơi đó. Trong khi nằm đợi thỉnh thoảng tôi lại ch́m vào một giấc ngủ chập chờn rồi lại choàng tỉnh v́ những cử động đầy căng thẳng của con mèo.


Tôi lại mơ thấy chuyện kinh hăi, nhưng lần này mọi chi tiết của cơn ác mộng dường như gần lại hơn, nh́n thấy rơ ràng hơn. Tôi chăm chú nh́n những đường nét nhoè của một con vật rồi bỗng thức dậy với tiếng hét to đến nỗi con Niggerman nhảy bật sang bên, c̣n đại uư Norris th́ cất tiếng cười.


Khi mọi sự bắt đầu, Norris liền đánh thức tôi và bảo tôi lắng nghe các con mèo. Từ phía ngoài cửa vọng lại tiếng mèo kêu xé ruột và tiếng vuốt cào, c̣n con Niggerman chẳng hề chú ư đến các đồng loại bên ngoài mà cứ chạy đi chạy lại dọc các bức tường trần trụi.


V́ một điều ǵ đó dị thường không thể giải thích nổi nên tôi thấy kinh sợ. Nếu như tôi và lũ mèo không có ảo giác th́ đúng là đ àn chuột đang sột soạt kia chui từ trên xuống dưới bên trong những bức tường La Mă mà tôi cho rằng được xây bằng những khối đá đặc. Nhưng thậm chí nếu điều đó có là như vậy, nếu trong đó có những sinh vật sống th́ v́ sao Norris không nghe thấy chúng? V́ sao Norris rất chú ư đến Niggerman và lũ mèo ở bên ngoài song lại không hề đoán định xem hành vi của chúng do cái ǵ gây ra.


Nghĩ vậy tôi liền cố gắng kể một cách b́nh tĩnh và lô-gích cho Norris nghe về những ǵ tôi đă nghe thấy, song ngay lúc đó tiếng động tắt hẳn. Tiếng động đă tới xa hơn xuống dưới, vào sâu hơn, thấp hơn tất cả mọi tầng hầm có thể và dường như tất cả ghềnh đá dưới chân chúng tôi đều chen chúc những con chuột đang chạy ầm ầm. Norris không hề bộc lộ chút nghi ngờ nào mà ngược lại, chàng nghe tôi một cách chăm chú. Bằng cái khoác tay chàng chỉ cho tôi hay bọn mèo ngoài cửa đă im lặng, dường như mọi dấu vết của bầy chuột đă mất, song con Niggerman lại gầm gừ và bây giờ rối rít như điên dại cào xuống nền bàn thờ ở giữa khu hầm mộ.


Có một cái ǵ lạ thường đang xảy ra. Tôi thấy đại uư Norris, giờ cũng có vẻ lo lắng thật sự. Chúng tôi lo lắng nh́n con mèo bây giờ đang dần dần b́nh tĩnh trở lại, tuy nhiên vẫn cứ chạy quanh bàn thờ.


Norris đưa chiếc đ èn lại gần bàn thờ hơn, chàng quỳ xuống và dùng tay bới lớp rêu xưa cũ để nh́n cho rơ hơn cái nơi tấm đá nặng đ è xuống sàn. Norris chẳng t́m thấy ǵ và đă muốn đứng dậy th́ bỗng nhiên tôi nhận ra một t́nh huống giản đơn nhưng đă khiến tôi phải run rẩy mặc dầu điều đó chỉ khẳng định cho những mối hoài nghi đă h́nh thành trong tôi.


Tôi nói ngay điều đó cho Norris hay và chúng tôi hồi hộp quan sát cái hiện tượng thông thường không ǵ bác bỏ được: ngọn lửa của cây đ èn đặt gần bàn thờ đă bị xiên lệch đi sang một bên như có cơn gió lùa. Không nghi ngờ ǵ nữa, luồng khí bốc ra từ khe hở giữa sàn và bàn thờ.


Phần đ êm c̣n lại trôi qua trong pḥng làm việc tràn ngập ánh sáng, chúng tôi ngồi thảo luận những hành động tiếp theo. Người ta sẽ rất kinh ngạc khi chỉ cần biết một phát hiện rằng dưới khối đá xây La Mă cổ xưa này c̣n tồn tại một hầm mộ sâu hơn nữa mà hiện thời chưa có ai trong số các nhà khảo cổ đă làm việc ở đây suốt ba trăm năm qua. Mà nơi đây c̣n có biết bao truyền thuyết ghê rợn xung quanh lâu đ ài nữa chứ, ư thức bị kích động của chúng tôi nhắc nhở đến hai lối thoát: hăy rời bỏ lâu đ ài này măi măi, hoặc lấy hết can đảm để quyết định thực hiện những cuộc mạo hiểm và tiến hành việc khai quật sàn nhà lên để tiến vào ḷng đất.


Đến sáng chúng tôi đồng ư thoả hiệp: tới Luân Đôn thuê một nhóm các nhà khảo cổ chuyên nghiệp và vén tấm màn bí ẩn lên với sự giúp đỡ của họ. Tuy nhiên, trước khi rời khu hầm, chúng tôi đă chẳng thành công khi toan tính nhấc bàn thờ ra chỗ khác, mà chắc chắn chính cái bàn thờ là cửa dẫn tới một nơi bí hiểm đáng sợ, v́ vậy giờ đây chúng tôi rất muốn dành cho những nhà chuyên môn t́m hiểu mọi sự.


Chúng tôi ghé lại Luân Đôn một thời gian lâu để đ àm phán với năm nhà khoa học. Sau khi xem xét những sự kiện, phỏng đoán truyền thuyết do chúng tôi tŕnh bày, họ không những không cười chế nhạo chúng tôi mà ngược lai, họ biểu lộ mối quan tâm cùng sự đồng cảm chân thành. Không cần phải nhắc tên tất cả bọn họ, nhưng tôi có thể nêu tên chẳng hạn ngài William Brinton nổi danh với những cuộc khai quật khu thành Tơ-roa. Cuối cùng khi đoàn tàu chuyển bánh, cái đoàn tầu chở cả nhóm chúng tôi về Ankester, bỗng tôi cảm thấy ḿnh đang đứng trên ngưỡng cửa những phát hiện khủng khiếp. Có thể cái chết của vị tổng thống của chúng tôi ở bên bờ đại dương trùng hợp với sự mở đầu cuộc hành tŕnh và bầu không khí tang tóc chung giữa những người Mỹ sống ở Anh quốc đă tác động đến như vậy.


Buổi chiều tối, ngày mồng bảy tháng 8, chúng tôi về đến Exhem Prairie và được biết khi chúng tôi vắng mặt th́ chẳng có ǵ bất thường xảy ra cả. Lũ mèo hoàn toàn ăn ngon ngủ yên, chẳng có cái bẫy chuột nào bị sập hết. Chúng tôi dự định bắt đầu nghiên cứu vào hôm sau, c̣n hiện thời tôi bố trí khách đến nghỉ ở các pḥng.


C̣n tôi ở lại pḥng ngủ của tôi chỗ ngọn tháp cùn chú mèo Niggerman. Tôi thiếp đi rất nhanh nhưng lập tức những cơn ác mộng lại vồ lấy tôi. Tôi mơ thấy một ngày hội tiệc La Mă tại đó, trung tâm chú ư là một món ăn đậy kín tàng chứa một cái ǵ đó thật khủng khiếp. Sau đó gă mục đồng ghê gớm đáng nguyền rủa cùng bầy gia súc bẩn thỉu trở lại trong cái hang tranh tối tranh sáng. Song tôi dậy muộn khi trời đă sáng bạch. Niggerman vẫn c̣n ngủ say. Khi xuống gác tôi thấy trong nhà đang ngự trị sự yên tĩnh. Một trong số các nhà nghiên cứu là ông Toruton đă toan giải thích khá ngây ngô về sự tĩnh mịch, ông cho rằng những sức mạnh nào đó đă chỉ cho tôi thấy những ǵ mà tôi đă cần phải thấy rồi và đó là nguyên do sự yên tĩnh.


Đến 11 giờ th́ tất cả mọi chuyện đă được chuẩn bị. Sau khi được trang bị bằng những ngọn đ èn công suất mạnh và dụng cụ chuyên dụng, chúng tôi xuống tầng hầm và đóng cửa ra vào lại. Do tin tưởng vào độ thính nhạy của Niggerman nên các nhà khoa học quyết định mang theo chú mèo đề pḥng chạm trán với lũ chuột.


Chúng tôi liếc qua những ḍng chữ La Mă cùng những hoa văn trang trí nơi bàn thờ, bởi v́ ba trong số các nhà khoa học đă thấy từ trước, và cả năm người đều đă đọc phần mô tả những điều đó rồi. Giờ th́ tất cả mọi chú ư tập trung vào bàn thờ trung tâm và một giờ sau ngài William Brinton đă đưa chiếc xà beng là đ̣n bẫy vào kẽ và cả tấm lát đáy đă được lật nghiêng về phía sau.


Nếu chúng tôi chưa được chuẩn bị về tâm lư từ trước th́ chắc chắn cái cảnh tưởng kinh khủng vừa được mở ra đă làm cho tất cả chúng tôi hoảng hốt và bàng hoàng rồi. Qua một tấm lỗ cửa vuông trên bàn đá chúng tôi thấy chiếc cầu thang với các bậc đă ṃn trên đó rải đầy xương người. Bộ dạng của những bộ xương c̣n nguyên vẹn, nhiều khúc xương đă bị chuột gặm, nhiều cái đầu lâu chứng tỏ về sự điên dại rơ ràng hoặc những hành vi kỳ quặc nơi những chủ nhân của chúng.


Xuôi xuống cuối cái thang kinh khủng này là một đường hầm h́nh như được đục vào vách đá và dẫn ḍng không khí xuyên qua, đó không phải là sự dao động của không khí th́ khoảng khắc như lúc đóng chặt nắp cửa hầm mà là sự thông khí mát mẻ thường xuyên. Hơi chậm lại một chút, chúng tôi run rẩy, rùng ḿnh bắt tay dọn dẹp lối đi. Chính lúc đó th́ ngài William sau khi xem xét các bức tường đá bàn nói rằng căn cứ vào hướng của những lớp đá th́ đường hầm này được đục xuyên xuống dưới. Bây giờ là lúc tôi phải trấn tĩnh và lựa chọn từng từ, từng chữ một cách đặc biệt cẩn thận để nói.



Sau khi bước xuống vài bậc nhỏ, chúng tôi thấy có ánh sáng ở phía trước, đó không phải là thứ ánh sáng lân tinh huyền hoặc ma quái mà là ánh sáng ban ngày b́nh thường, thứ ánh sáng không thể nào lọt qua từ một nơi nào đó được, ngoại trừ nó được xuyên qua những lỗ thủng bí mật trong tầng đá mà cả toà lâu đ ài được xây trên đó. Chẳng có ǵ đáng ngạc nhiên với việc những lỗ thủng này không được t́m thấy trước đây. Thung lũng hoàn toàn không có ai ở, c̣n ghềnh đá lơ lững trên khu thung lũng lại quá cao. Sau vài bước nữa, tất cả chúng tôi thấy sởn gai ốc v́ một cảnh ghê gớm mới và đứng tim với đúng nghĩa của từ này bởi ngài Toruton ngă ngất ngay lên tay của chàng Norris hàng xóm nay lặng người đi không động đậy, khuôn mặt chàng bỗng nhợt đi và mất hết thần sắc, c̣n tôi giọng trở nên kḥ khè và hai mắt nhắm nghiền.


Ai đó đứng sau tôi rên rỉ bằng một giọng phều phào chẳng c̣n chút sức sống "Ối trời ơi!". Trong cả bảy người đ àn ông nơi đây chỉ có ngài William Brinton c̣n tự chủ b́nh tĩnh mặc dầu ngài đi đầu nhóm và phải là người đầu tiên chạm mặt với cái địa ngục này.


Ấy là một cái hang kích thước rất rộng tranh tối tranh sáng trong đó nh́n rơ những nấm mộ, những tảng đá được xếp thành một đường tṛn, một công tŕnh cấu trúc kiểu La Mă với ṿm trần thấp, một bệ thờ của người Xắc-xông đă bị huỷ hoại, một toà nhà gỗ kiểu thời kỳ mông muội của người Anh. Nhưng tất cả những cái đó đều mờ nhạt đi trên cái nền phông là một biển xương người. Phần lớn các bộ xương ấy được chất thành những đống lộn xộn chẳng ra h́nh thù ǵ, nhưng một số c̣n xếp giữ dạng bộ xương nguyên mà tư thế của chúng thể hiện rơ sự giận dữ man dại hoặc là họ cố trốn chạy mối hiểm hoạ hay là đang tóm giữ người khác với kẻ khát máu.


Nhà khảo cổ, tiến sĩ Trusk bắt đầu nghiên cứu những chiếc đầu lâu và lắc đầu thừa nhận đây là kiểu đầu lâu biến dạng ông ta chưa hề biết đến. Phần lớn đầu lâu xếp theo bậc tiến hoá th́ đứng thấp hơn người Piltdon, nhưng xét về mọi đặc điểm th́ là loài người. Các nét của một số đầu lâu chứng minh về giai đoạn phát triển cao hơn, c̣n một số th́ là loại người hiện đại phát triển. Xương cốt đă bị chuột gặm, nhưng nhiều cái xương cũng mang dấu vết cắn của răng người. Đây đó lẫn với xương người cũng lăn lóc những cái xương nhỏ của chuột - nạn nhân cuối cùng của tấn bi kịch cổ xưa.


Thật lạ lùng nhưng sau tất cả những phát hiện đó chúng tôi vẫn c̣n sống và thậm chí c̣n đủ trí năng suy nghĩ. Có lẽ ngay cả trong cuốn tiểu thuyết khủng khiếp nhất theo phong cách lô-gích th́ cả Hoffman lẫn Hainsmans cũng khó ḷng viết nổi những cảnh tượng kỳ lạ ghê rợn đến thế như cái hang tranh tối tranh sáng này. Trong khi cứ qua mỗi bước chân lại chạm trán với một phát hiện kinh khủng mới, chúng tôi cố không nghĩ tới những ǵ đă xảy ra nơi địa ngục này cách đây ba trăm năm hay một ngàn năm, hay một vạn năm. Ngài Toruton lại ngất đi khi ngài Trusk cho biết nếu căn cứ theo các bộ xương th́ có nhiều người tại đây đă ḅ bằng hai tay, hai chân suốt cả hai chục thế hệ liên tục.


Những nỗi kinh hoàng mới đă theo đuổi khi chúng tôi toan tính t́m hiểu, nghiên cứu các công tŕnh xây dựng đó. Người ta đă giam hăm những con người bốn chân (trong số họ chúng tôi cũng gặp một số bộ xương của người đứng thẳng hiện đại) ở trong những gian ngăn có rào chắn mà sau đó họ đă phá tan để thoát ra ngoài, những con người bị hành hạ bởi cái đói và mối kinh sợ trước những con chuột gớm ghiếc. Rơ là nơi đây đă có hàng đ àn tù nhân và họ được nuôi bằng thứ rau dành cho gia súc mà những phần c̣n sót lại đă rữa nát vốn được xếp chặt trong những vựa lúa xây bằng đá theo lối kiến trúc thời tiền La Mă. Giờ th́ đă rơ việc tại sao tổ tiên tôi đă có những khu vườn lớn đến thế - Lạy Chúa, hăy rủ ḷng cho tôi quên hết sự này đi. C̣n những tù nhân được dùng để làm ǵ cũng khỏi cần phải hỏi nữa.


Tay xách chiếc đ èn b́nh trong khu xây dựng kiểu La Mă, ngài William b́nh tĩnh kể chuyện về những lễ nghi kỳ lạ không tài nào tin nổi và về chế độ ăn uống đặc biệt của các quan tư tế thuộc một phong tục thờ cúng thời tiền sử mà sau đó đă nhập thành lễ thờ phụng Đức mẹ Kibela. Chàng Norris, người từng nếm trải những năm chinh chiến trong bao ngóc ngách chiến hào cũng không thể không run rẩy trong toà nhà Anh quốc đă có thời là ḷ sát sinh và nhà bếp ghê tởm như chàng đă xác định. Vả lại, suy nghĩ của tôi thấy quá hăi hùng khi thấy những vật dụng Anh quốc b́nh thường ở nơi này, khi đọc những ḍng chữ tiếng Anh ở đây, ḍng chữ gần đây nhất được viết năm 1610. Tôi không tài nào bước vào được toà nhà ngầm này, các nơi đă xảy ra bao điều ác gây nên bởi lưỡi dao của ông tổ ḍng họ tôi, ngài Walter de la Power.


Tôi mạnh bạo bước vào căn pḥng kiểu Xắc-xông với những chiếc cửa gỗ sồi đă long bản lề và nh́n thấy mười cái xà lim được xây xếp thành hàng với những chiếc song sắt đă rỉ sét. Trong ba xà lim ấy có những tù nhân - những bộ xương của người ở bậc cao trong sự tiến hoá, và tôi c̣n phát hiện thấy chiếc nhẫn với dấu khắc h́nh gia huy nhà tôi trên ngón tay của một người trong số họ. Ngài William c̣n t́m thấy một khu ngục tối cổ xưa hơn thế trong toà nhà kiểu La Mă nhưng ở đấy các xà lim đều trống rỗng. Dưới các xà lim đó có một hầm hẹp cất giữ một bộ sưu tập được sắp xếp cẩn thận những khúc xương người mà trên một vài cái có khắc những ḍng chữ song song bằng tiếng La tinh, tiếng Hy Lạp và tiếng Phri-gi.


Đồng thời, tiến sĩ Trusk mở được nắp một trong những ngôi mộ thời tiền sử và lấy lên những chiếc sọ của loài người đă ở thang bậc phát triển cao hơn loài vượn gorilla. Ông cũng phát hiện một số dấu tích có những ḍng chữ thuộc thứ ngôn ngữ ghi ư. Chỉ có con mèo của tôi là b́nh tĩnh trong suốt thời gian xảy ra những điều như cơn ác mộng ấy. Khi thấy con mèo nằm yên b́nh trên đống xương người ấy tôi bèn nghĩ rằng nơi đôi mắt vàng long lanh của nó có thể cất giữ bao nhiêu điều bí mật nữa.


Sau khi t́m hiểu phần nào những điều đă xảy ra trong cái hang sâu bí mật này - những điều mà giấc mộng tiên tri của tôi đă cảnh báo, - chúng tôi liền bước tiếp vào sâu trong khu hang tối, nơi ánh sáng không lọt tới. Chỉ vài bước chân thôi là chúng tôi đă phát hiện ra những dăy hố nơi đ àn chuột trước đây được nuôi ở đó, nhưng sau một thời gian chúng gia tăng thêm hơn nữa. Đạo quân chuột đă chuyển sang tấn công những tù nhân sống kia, rồi sau đó chúng thoát ra khỏi khu lâu đ ài để rồi tàn phá những khu vực xung quanh, một điều đă được phản ánh trong những truyền thuyết đáng ghi nhớ!


Ôi, lạy Chúa! Thật ghê khiếp những cái hố đen ng̣m chứa đầy những khúc xương bị gặm, bị cưa xẻ và những cái đầu lâu trơn trụi! Rồi những cái rănh hầm kinh khủng chồng chất xương cốt của giống người Pitêcantrôp, người Xen-tíc, người La Mă và người Anh sau bao thế kỷ tội lỗi! Một số rănh hố đầy xương đến mặt đất nên chẳng thể nào xác định được độ sâu của chúng. C̣n một số hố, hào khác th́ sâu không đáy, thậm chí ánh đ èn pin rọi cũng không thấy đáy đâu cả. Chúng c̣n cất giấu những mối khủng khiếp nào nữa đây?


Một lần tôi bị trượt chân gần một cái hố sâu thẳm như thế và khi ấy tôi đă nếm trải một thời khắc kinh hoàng quá đỗi. Tôi đă đứng măi lâu sau cái phút ghê hồn ấy bởi v́ bên cạnh chẳng có ai ngoài đại uư Norris. Sau đó từ măi trong bóng tối đằng xa vọng lại một thứ tiếng động mà tôi đă biết rơ. Con mèo đen của tôi lao ngay về chỗ ấy, tới khoảng sâu thẳm khôn cùng đó nhanh như một vị thần Hy Lạp có cánh vậy. Nhưng tôi cũng không đứng im măi được v́ một giây sau đó tôi đă nghe thấy tiếng chạy dồn dập ghê khiếp của đ àn chuột quỷ sứ đó. Chúng đă lôi kéo chạy về phía trung tâm trái đất nơi vị thần điên khùng, Nyarlatoev không có mặt đang rên rỉ trong bóng tối trong tiếng sáo đệm của hai gă nhạc công ngây ngô vô h́nh vô dạng.


Đèn pin của tôi tắt nhưng tôi tiếp tục chạy. Tôi nghe thấy những giọng nói, tiếng gào rú và tiếng vang, nhưng tiếng chạy dồn dập khốn nạn và phản trắc kia đă át đi hết thảy. Tiếng chạy dồn dập của đ àn chuột ấy cứ vọng măi lên, vồng cao lên như cái xác cứng quèo, trương ph́nh đang nổi cao lên trên bề mặt bóng nhẫy của ḍng sông và nó trôi lềnh bềnh dưới gầm các cây cầu tới biển khơi đen ś thối rữa.


Có cái ǵ đó va vào tôi, nó mềm và đầy đặn. Chắc có thể đây là những con chuột, đ àn chuột đông đúc và tham lam chuyên ăn thịt ngươi sống... V́ sao lũ chuột lại không ăn thịt ngài de la Power nếu như những người trong ḍng họ de la Power đă ăn món đồ ăn bị cấm ấy? Chiến tranh đă ngốn ngấu cậu con trai của tôi... c̣n đám Yankee đă ăn thịt Carfax, ông tôi cùng chiếc phong b́ bí mật đă biến mất trong khói lửa trận mạc... Không, không, tôi không phải là tên mục đồng quỷ sứ trong cái hang ghê tởm này đâu! C̣n một trong những con thú vô h́nh vô dạng có cái khuôn mặt đâu phải của Edward Norris! Người nào đă bảo tôi là de la Power hả? Norris c̣n sống, c̣n con trai tôi th́ không... V́ sao đất đai của ḍng họ de la Power lại thuộc về nó cơ chứ?... Đó là một tṛ phù thuỷ, tôi xin nói với quư vị... đó là con rắn cạp nong... C̣n gă Toruton đáng nguyền rủa kia, ta sẽ khiến ngươi chừa cái thói giả chết v́ những ǵ ḍng họ chúng ta đây đang gây ra. Ấy là máu, c̣n ngươi, đồ nhỏ nhen ti tiện kia, ta sẽ chỉ cho ngươi thấy thế nào là khinh bỉ. Xin hăy cho phép tôi... Hỡi Đức Mẹ vĩ đại, Đức Mẹ vĩ đại... Hỡi Atis!... Dia ad, ao daun, bagus dunach ort! Donas!... u-u-u... r-r-r-r... s-s-s-s...


Người ta bảo rằng tôi đă gào lên tất cả những cái đó khi họ t́m thấy tôi ba giờ sau đó trong bóng tối, họ đă phát hiện ra tôi ở bên cạnh cái xác đă bị gặm hết một nửa của đại uư Norris, cạnh con mèo của tôi khi ấy đă toan tính cắn gặm tôi. Họ đă cho nổ tung khu nhà Exhem Prairie, họ đă tước đoạt con Niggerman của tôi và mang nó đi rồi khoá kín nhốt tôi trong căn pḥng với những chấn song chắc chắn này, bây giờ tất cả mọi người đều nhỏ to th́ thầm về tính di truyền trong tôi và những hành vi quái đản của tôi nữa. C̣n Toruton th́ ở trong căn pḥng bên cạnh, nhưng tôi không được phép nói chuyện. Người ta cũng cố sức che giấu tất cả mọi dữ liệu về toà lâu đ ài. Khi tôi nói về chàng Norris đáng thương th́ họ buộc tôi vào tội ác không hề làm việc đó. Họ phải biết ấy là lũ chuột cống, lũ chuột chạy rầm rập đang đi tới lui kia, tiếng chân chạy của chúng khiến tôi không tài nào thiếp đi được. Họ phải biết chính là những con chuột đang chạy trong lớp phủ tường căn pḥng này và khêu gợi tôi tới những cơn ác mộng mới, ấy là đàn chuột mà họ đâu có nghe thấy chúng, chúng là những con chuột, những con chuột trong bức tường đá.
Reply With Quote
Reply

Thread Tools

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is On

Forum Jump


All times are GMT -7. The time now is 05:59 PM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.7
Copyright ©2000 - 2018, vBulletin Solutions, Inc.
Người Việt Năm Châu