Welcome to Người Việt Năm Châu. Chúc tất cả Anh Chị Em một ngày b́nh yên, may mắn và hạnh phúc... XIN ĐỪNG QUÊN: Hơn 80 triệu đồng bào VN đang bị nhốt trong cái nhà tù lớn mệnh danh XHCNVN của lũ quốc tặc Việt cộng ...

Trang Chính Diễn Đàn About NVNC Một Góc Phố Một Góc Phố US MGP phpBB Lư Lạc Long
Pḥng Phát Thanh VietKey Online NVNC Làm Quen Cyber Cafe Văn Học Nghệ Thuật Xă Hội Tin Tức Thời Sự
Go Back   NGƯỜI VIỆT NĂM CHÂU > 4. XĂ HỘI - ĐỜI SỐNG - KHOA HỌC KỸ THUẬT > Góc Kinh Nghiệm Sống & Gỡ Rối > KNS & Danh Ngôn Ca Dao
FAQ Members List Calendar Mark Forums Read

KNS & Danh Ngôn Ca Dao Chia xẻ KNS và sưu tầm danh ngôn ca dao

Reply
 
Thread Tools
  #41  
Old 07-28-2008, 11:53 AM
ướt mi's Avatar
ướt mi ướt mi is offline
Nhỏ thấy ghét - #1 (top 30 posters)
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 12,823
Thanks: 6
Thanked 14 Times in 14 Posts
Default Re: Điển hay tích lạ

Khúc Nghê Thường Vũ Y
NTQ.
Theo truyền thuyết (sách "Dị văn lục") th́ khúc vũ này do Đường Minh Hoàng du Nguyệt điện về chế ra cho những người cung nữ múa hát.

Nguyên một đêm Trung Thu, niên hiệu Khai Nguyên đời nhà Đường (713-741), vua Minh Hoàng thấy trăng sáng, mơ ước được đặt chân đến đấy xem chơi. Có đạo sĩ tên La Công Viễn (có sách chép là Diệp Pháp Thiện), người có phép tiên mới dùng giải lụa trắng, hóa thành một chiếc cầu đưa nhà vua đến Nguyệt điện.

Trong điện bấy giờ sáng rực. Tiếng nhạc du dương. Những nàng tiên trong những xiêm y xinh tươi, lộng lẫy, uyển chuyển múa hát như đàn bướm đủ màu tha thướt, bay lượn bên hoa.

Đường Minh Hoàng càng nh́n càng thấy say mê, quên cả trời gần sáng, nếu không có La Công Viễn nhắc th́ quên trở về.

Nhờ ghi nhớ cách điệu nên khi trở về triều, Đường Minh Hoàng chế thành khúc "Nghê Thường vũ y" để tập cung nữ múa hát. Rồi cứ đến đêm rằm tháng tám, Đường Minh Hoàng cùng với Dương Quư Phi uống rượu dưới trăng, ngắm đoàn cung nữ xiêm y rực rỡ, uyển chuyển múa khúc Nghê Thường để tưởng như sống trong cung Quảng Hàn, điện Nguyệt.

Truyền thuyết này có tính cách thần thoại.

"Đường thư" chép: Đường Minh Hoàng lên chơi Nguyệt điện, thấy các tiên nữ mặc áo cánh chim, xiêm y ngũ sắc, hát bài "Tây Thiên điệu khúc", đến khi trở về trần, c̣n nhớ mang máng. Nhằm lúc có Tiết độ sứ là Trương Kính Thuật từ Tây Lương, đem khúc hát Bà La Môn đến biếu, Minh Hoàng truyền đem san định lại và đổi tên là khúc "Nghê Thường vũ y".

Tài liệu này có phần thực tế.

"Nghê" là cầu vồng. Tiếng miền Nam gọi là cái mống, do ánh nắng xuyên qua hơi nước trong mây nên phân thành bảy màu. Sách Tàu ngày xưa chỉ nhận có năm màu.

"Thường" là xiêm, để che phần hạ thân của người. "Nghê Thường" có nghĩa là xiêm cắt bằng năm màu.

"Vũ y" là áo dệt bằng lông chim. Hay có nghĩa là kiểu áo theo h́nh cách chim.

"Nghê Thường vũ y", ta có thể cho đó là những vũ nữ mặc áo theo h́nh cánh chim, c̣n quần th́ bằng lụa phất phới ngũ sắc.

Những nhà sử học và khảo cổ học đă cho biết: đời Đường (và trước đời Đường), người Tàu đă có một khái niệm rơ rệt về địa dư vùng Tân Cương mà họ thường đến để mua bán và... chinh tây. Mặc dù người Tàu chưa từng chinh phục Ấn Độ nhưng sự bang giao về thương mại và chính trị đă có từ đời Hán (206-196 trước D.L.). Ấn Độ là nơi mà đạo Bà La Môn rất phồn thịnh. Lắm khi người Tàu và người Tân Cương lúc bấy giờ gọi phần đất Ấn Độ là Bà La Môn quốc. Bằng cớ là vào năm 629, lúc nhà sư Trần Huyền Trang (thường gọi là Đường Tam Tạng) đi thỉnh kinh ở Ấn Độ, ghé nước Cao Xương. Vua nước này có viết một bức thư cho vị Khả Hăn Tây Đột Quyết, yêu cầu Khả Hăn hết sức ủng hộ Huyền Trang đi dễ dàng đến "Bà La Môn quốc".

Vậy, ta có thể cho khúc "Nghê thường vũ y" là h́nh thức biến chuyển của khúc hát "Bà La Môn" đă có trước tiên ở phần đất Ấn Độ ngày xưa. Nó truyền sang Tàu ở đất Tây Lương do Tiết độ sứ Trương Kính Thuật đem dâng cho Đường Minh Hoàng.

Đất Tây Lương chính là huyện Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc ngày nay của nước Tàu. Trước đời nhà Đường, Đôn Hoàng đóng một vai tṛ quan trọng về phương diện văn hóa và thương mại.

Về mặt văn hóa, Đôn Hoàng chính là nơi các pháp sư Ấn Độ đến nghỉ ngơi, giảng đạo trước khi đi sâu vào đất Tàu. Về mặt thương mại, Đôn Hoàng là đầu cầu nối liền đường chở tơ lụa từ Tàu sang Ấn Độ, Ba Tư đến Địa Trung Hải. Ở đây là nơi tập trung các đoàn thương gia quốc tế chuyên chở hàng hóa trên lưng lạc đà tấp nập để trao đổi sản phẩm. Các nhà sử học gọi là "Đường tơ lụa" (Route de la soie).

Con đường dài xa thẳm ấy phải trải qua nhiều nước nhỏ với những vùng nông nghiệp rải rác ph́ nhiêu. Những nước nhỏ này nay đă bị diệt vong. Nhưng từ đầu công nguyên, những nước này có một nền văn hóa khá cao, chịu ảnh hưởng Ba Tư, Ấn Độ và Trung Hoa. Nước đáng chú ư nhứt là nước Qui Tư. Nước này giỏi về âm nhạc và vũ khúc. Nhạc công đội khăn đen, mặc y phục bằng lụa đỏ, tay áo thêu. Bản nhạc của họ có nhiều tên thơi mộng "Tṛ chơi giấu kim thoa", "Người ngọc chuyền ly rượu", v.v... Khi ḥa tấu, có bốn người biểu diễn ca vũ. Ở vùng núi nước Qui Tư có những ngọn suối đàn. Nước nhỏ xuống đá từng giọt phát âm bổng trầm. Mỗi năm một lần các nhạc sĩ đến lắng nghe để phổ thành nhạc.

Phụ nữ nước Qui Tư rất đẹp. Gương mặt tṛn, đều đặn. Y phục đặc biệt là nhiều kiểu, nhiều màu, thêu thùa khéo léo. Đàn ông mặc áo trắng viền xanh hoặc xanh viền trắng. Đàn bà mặc hai kiểu áo: tay rộng và tay chật. Áo trắng bâu xanh. Áo đen có thêu h́nh màu xanh trắng. Áo dài xanh viền vàng hoặc có sọc vàng. Phải chăng đó là những màu "nghê thường"?

Vậy, căn cứ vào khoa khảo cổ và sử học, ta có thể cho khúc "Nghê Thường vũ y" là một ca vũ khúc Ấn Độ truyền sang. Trên con đường phiêu lưu bằng "con đường tơ lụa" trước khi truyền sang Trung Hoa, khúc ca vũ này đă bị các sắc tộc dọc đường biến cải ít nhiều. Và khi đến Trung Hoa th́ nó được chấn chỉnh lại cho hợp với dân tộc tính Trung Hoa do một nhà vua phong lưu tài tử, ăn chơi rất mực.

Trong "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều, có câu:

Dẫu mà tay múa, miệng xang,

Thiên tiên cũng ngoảnh Nghê Thường trong trăng.

Trong "Bích Câu kỳ ngộ" cũng có câu:

Đong đưa khoe thắm, đưa vàng,

Vũ y thấp thoáng, Nghê Thường thiết tha.
Reply With Quote
  #42  
Old 07-28-2008, 11:55 AM
ướt mi's Avatar
ướt mi ướt mi is offline
Nhỏ thấy ghét - #1 (top 30 posters)
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 12,823
Thanks: 6
Thanked 14 Times in 14 Posts
Default Re: Điển hay tích lạ

Núi Vọng Phu
NTQ.

Núi Vọng Phu cũng có tên là núi Mẫu Tử, cao 2051 thước, trước kia thuộc tỉnh Darlac. Từ ngày quận Khánh Dương sát nhập vào tỉnh Khánh Ḥa, núi Vọng Phu đă nghiễm nhiên trở nên ngọn núi chúa của quần sơn tỉnh này.

Chóp núi Vọng Phu là một khối đá hoa cương khổng lồ, đứng thẳng lên trời; bên cạnh lại có một khối đá khác nhỏ hơn. Hai khối đá này tương tự h́nh người. Đứng xa ngoài 40 cây số vẫn c̣n trông rơ. Và, người ta có cảm tưởng như đó là một người mẹ đang bồng đứa con, phóng tầm mắt ra biển khơi đón chờ một người đi mà không bao giờ trở lại. Và, căn cứ theo truyện cổ tích, dân chúng địa phương mới đặt tên núi này là núi Vọng Phụ Người Thượng gọi là T.Yang-Mten.

Tương truyền một thời xa xưa, có hai vợ chồng một bác tiều phu hiếm hoi con, nên bà vợ thường đi cầu tự khắp các đền chùa quanh vùng. May mắn, một ngày kia, bà hạ sinh được một cô con gái; qua năm sau lại hạ sinh được một cậu con trai. Vợ chồng tiều phu rất đỗi vui mừng, cám ơn Trời Phật đă nhỏ ḷng thương đến.

Hai chị em lớn lên trong t́nh thương của cha mẹ.

Một hôm, hai chị em đang ngồi róc mía ăn. V́ giành nhau nhiều ít, đứa em sẵn có con dao trong tay, giáng một nhát lên đầu chị, máu tuôn xối xả.Kinh sợ và hối hận, đứa em bỏ chạy mất. Cha mẹ t́m khắp nơi vẫn không thấy. V́ nhớ con, hai ông bà ngày càng héo ṃn rồi lần lượt theo nhau qua đời. Đứa con gái sống bơ vơ, không người thân quyến nương dựa, phải bỏ đi nơi khác t́m cách nuôi thân.

C̣n đứa em chạy đến bờ biển, gặp chiếc thuyền buôn sắp nhổ neo vào Nam, liền xin đi theo học nghề buôn bán. Thời gian trôi qua, nó khôn lớn lên và làm ăn khá giả. Bấy giờ ḷng chạnh nhớ quê hương, cha mẹ càng nổi dậy nên nhứt định về quê. Nhưng, than ôi, khi về đến th́ cha mẹ đă hóa người thiên cổ, chị th́ bỏ đi biệt tích.

Qua cơn xúc động, chàng sang một làng gần đó sinh cợ lập nghiệp. Chàng gặp một cô gái mồ côi, làm ăn lam lũ nhưng tính nết hiền lành. Cảm v́ cùng cảnh ngộ, hai người đem ḷng yêu nhau và thành đôi vợ chồng. Ở với nhau một thời gian trong cảnh gia đ́nh thuận ḥa đầm ấm, người vợ lại sinh được một trai. Không khí gia đ́nh càng thêm mặn nồng.

Một hôm, người vợ gội đầu sau nhà, người chồng đi làm về, ra đứng xem. Vô t́nh, chàng thấy ẩn dưới làn tóc vợ có một vết thẹo, lấy làm lạ mới hỏi nguyên do. Người vợ thực t́nh kể lại kỷ niệm buồn mười năm xưa. Người chồng lặng điếng người khi nhận ra đó là người chị ruột của ḿnh.

Người chồng hết sức đau khổ v́ chàng vô t́nh đă phạm phải lỗi loạn luân. Nhưng chàng đành chôn sâu nỗi khổ tâm ấy tận đáy ḷng, không dám cho vợ biết.

Thế rồi ngày hôm sau, lấy cớ đi buôn chuyến xa, chàng từ giă vợ con, giong buồm ra khơi, hẹn ngày trở lại. Người vợ có ngờ đâu lời hẹn về ấy hóa thành lời vĩnh biệt của chồng.

Thời gian năm tháng trôi qua, chồng vẫn không thấy trở về mà âm tín cũng vắng bặt. Buồn rầu, đau khổ, nàng bồng con trèo lên đỉnh núi cao, trông ra ngoài biển cả, mỏi ṃn t́m xem có thấy cánh buồm của chồng xuất hiện đâu không? Nhưng than ôi:

Bao năm đâu quản gió mưa,

Bồng con đứng đợi vẫn chưa thấy về,

Thời gian phai xóa lời thề,

Mẹ con hóa đá bên lề tháng năm.

(Thơ của B́nh Nguyên Lộc)

Từ đấy, những bạn thuyền đi biển, khi qua miền Trung, thấy buồm không căng gió, liền hát lên câu ca dao để mong nàng Vọng Phu giúp đỡ:

Lạy bà cho thổi gió nồm,

Chồng bà ở Quảng giong buồm theo vô.

Hay là:

Lạy bà cho thổi gió đông,

Cho thuyền tôi chạy cho chồng bà lên.
Reply With Quote
Reply

Thread Tools

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off

Forum Jump


All times are GMT -7. The time now is 07:10 PM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.7
Copyright ©2000 - 2017, vBulletin Solutions, Inc.
Người Việt Năm Châu