Welcome to Người Việt Năm Châu. Chúc tất cả Anh Chị Em một ngày b́nh yên, may mắn và hạnh phúc... XIN ĐỪNG QUÊN: Hơn 80 triệu đồng bào VN đang bị nhốt trong cái nhà tù lớn mệnh danh XHCNVN của lũ quốc tặc Việt cộng ...

Trang Chính Diễn Đàn About NVNC Một Góc Phố Một Góc Phố US MGP phpBB Lư Lạc Long
Pḥng Phát Thanh VietKey Online NVNC Làm Quen Cyber Cafe Văn Học Nghệ Thuật Xă Hội Tin Tức Thời Sự
Go Back   NGƯỜI VIỆT NĂM CHÂU > 4. XĂ HỘI - ĐỜI SỐNG - KHOA HỌC KỸ THUẬT > Góc Kinh Nghiệm Sống & Gỡ Rối > KNS & Danh Ngôn Ca Dao
FAQ Members List Calendar Mark Forums Read

KNS & Danh Ngôn Ca Dao Chia xẻ KNS và sưu tầm danh ngôn ca dao

Reply
 
Thread Tools
  #11  
Old 03-23-2008, 10:32 PM
Phonglinh's Avatar
Phonglinh Phonglinh is offline
Nhị Linh Tiểu Nha Đầu
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 1,176
Thanks: 0
Thanked 2 Times in 2 Posts
Default ĐIỂN HAY TÍCH LẠ


Khúc Đàn Thủy Tiên


Đất Kim Lăng bên Trung Quốc là nơi phồn hoa đô thị, thường dùng làm kinh đô cho các triều đại lâu đời. Ở đây có nhiều danh lam thắng cảnh, khiến cho mặc khách tao nhân không ai là không muốn đến thưởng ngoạn. Nhất là trên sông Tần Hoài, bên hồ Mặc Sầu, vào khoảng mùa xuân mát mẻ, những cành cây xanh, nước biếc, núi lam lúc nào cũng dập d́u tài tử giai nhân.

Có một chàng tên Giang Thu San, quê ở An Huy, vốn người phong nhă, tính ưa ngao du sơn thủy. Gặp buổi ngày xuân, chàng liền rủ bạn sang Kim Lăng thưởng xuân. Đến nơi nghe đồn trong vùng có một trang tuyệt thế giai nhân tên Thủy Tiên Tử, nổi tiếng danh cầm, gần xa ai cũng bái phục. Động ḷng hâm mộ, họ Giang cùng bạn cố t́nh t́m hỏi cho được đến nơi.

Buổi đầu gặp gỡ, để xin nghe tiếng đàn, Thu San hết sức van nài, mới được nàng chấp thuận. Đoạn, nàng ung dung vặn trục dạo phiếm cho nghe.

Thoạt khi tay tiên đặt lên tơ đồng, chỉ nghe khoan khoan nhè nhẹ, vẳng xa như có như không. Dần dần th́ thấy vẻ người trầm lặng, hai tay thoăn thoắt nhanh nhanh. Rồi tiếng đàn chuyển sang giọng dồn dập sôi nổi như sóng gào gió thét, như chen với tiếng muôn quân ngh́n ngựa x́nh xịch đổ tới. Kế đó, lại nổi giọng nỉ non réo rắt như oán, như than, khiến người ngồi nghe phải mê mẩn tâm thần như phiêu diêu chốn non Bồng, nước Nhược. Thật là:

"Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa".(1)

Một lúc, đàn im. Thu San từ từ định tỉnh và hỏi khúc đàn ǵ? Thủy Tiên Tử đáp:
- Đây là khúc "Thủy Tiên", tiện thiếp phỏng theo khúc "Thủy Tiên Tháo" của tay danh cầm ngày xưa là Bá Nha mà sáng tạo nên.
Thu San hỏi nguồn gốc, nàng ung dung kể lại rằng:
"Ngày xưa, Bá Nha học đàn của ông Thành Liên. Được 3 năm th́ đă hay nhưng chưa nhập điệu. Thành Liên bảo:
"-Thầy ta là Tử Xuân ở ngoài biển cả, có thể dùng đàn làm thay đổi ḷng người. Vậy ta cho ngươi ra đó để học thêm.
"Đoạn dẫn Bá Nha xuống thuyền ra một ḥn đảo giữa biển khơi, bảo Bá Nha ở đợi, ông sẽ đón thầy đến. Rồi dong thuyền đi thẳng, không thấy trở lại. Bá Nha một ḿnh ở giữa đảo, chỉ thấy núi rừng mờ mịt, tiếng nước biển vỗ dồn dập, réo rắt chung quanh, chim chóc kêu rên bi thiết. Bá Nha cảm thấy buồn lạnh cả người, bất giác thở dài than: "Thầy ta muốn làm thay đổi tính t́nh ta đây..."
"Đoạn cầm đàn trổi lên một khúc. Vừa dứt khúc, đă thấy Thành Liên quày thuyền trở lại đón. Từ đấy, Bá Nha nổi tiếng là bậc danh cầm; và khúc đàn ấy đặt tên là "Thủy Tiên Tháo". Tiện thiếp rất say mê khúc đàn đó nên mới mượn để đặt làm tên".

Thu San nghe xong, rất thán phục. Đoạn thở dài, nói với nàng:

- Trong "Tỳ Bà Hành" của Bạch Cư Dị có câu:

"Đại huyền tao tao như cấp vũ,
Tiểu huyền thiết thiết như tư ngữ.
Tao tao thiết thiết thác tạp đàn,
Đại châu tiểu châu lạc ngọc bàn"...(2)
Tạm Dịch:
"Dây to nhường đổ mưa gào,
Tỉ tê dây nhỏ như chiều chuyện riêng.
Tiếng cao thấp lựa chen lần gảy,
Mâm ngọc đâu lần nẩy hạt châu."

Xưa nay, tôi vẫn cho lời thơ ấy diễn tả quá đáng. Nhưng hôm nay, có diễm phúc nghe được điệu đàn của quư nương mới nhận thấy lời của cổ nhân thật bức thiết chân t́nh.

Thủy Tiên Tử khiêm tốn từ tạ, đoạn sai thị nữ pha trà thủy tiên ra thết khách.

Bọn Thu San nâng chén nước uống, nghe thoang thoảng mùi thơm thanh nhă, khác hẳn trà quư thường dùng hằng ngày. Bất giác, ai cũng căm thấy khoan khoái tinh thần như hiện thân nơi tiên cảnh.

Từ tạ ra về nhưng ḷng khách vẫn quyến luyến, nao nao tưởng nhớ. Nơi quê hương, không lúc nào không nhắc nhở đến Thủy Tiên.

Mùa xuân năm sau, Thu San chạnh ḷng nhớ người năm cũ, lần ṃ đến Kim Lăng, mong lại được nghe tiếng đàn tuyệt diệu của người ngọc. Nhưng đến nơi th́ khách giai nhân ngày xưa vắng bặt, chỉ thấy cây xanh nước biếc một mầu.


Trích: "Điển Hay Tích Lạ" của Nguyễn Tử Quang

-------------------
(1) "Đoạn Trường Tân Thanh" của Nguyễn Du.
(2) Ông Phan Huy Vịnh đời Minh Mạng có dịch nôm:
"Dây to nhường đổ mưa gào,
Tỉ tê dây nhỏ như chiều chuyện riêng.
Tiếng cao thấp lựa chen lần gảy.
Mâm ngọc đâu lần nẩy hạt châu".....
__________________
PHONG LINH
Reply With Quote
  #12  
Old 03-23-2008, 10:41 PM
M.T's Avatar
M.T M.T is offline
Đời sáng xuân ngời -#7 (top 30 posters)
 
Join Date: Oct 2007
Posts: 5,342
Thanks: 0
Thanked 1 Time in 1 Post
Default Re: ĐIỂN HAY TÍCH LẠ

Tích nhẹ nhàng quá ha Nắng !
Bởi âm nhạc có sức hút và đưa người ta đến gần với nhau một cách lạ thường !
Nắng đă post một câu chuyện hay nha !
Reply With Quote
  #13  
Old 04-26-2008, 12:05 PM
ướt mi's Avatar
ướt mi ướt mi is offline
Nhỏ thấy ghét - #1 (top 30 posters)
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 12,823
Thanks: 6
Thanked 14 Times in 14 Posts
Default Re: Điển hay tích lạ

Trống Cơm
NTQ



Không ai biết trống cơm ra đời từ lúc nào. Chỉ biết đại khái là các cụ ta thường dùng nó trong những dịp tế lễ thần thánh, những buổi hát chèo. Nhất là trong việc đưa mạ

Đó là một thứ trống ḿnh dài và nhỏ, một loại trống Việt Nam hoàn toàn từ h́nh dáng, âm thanh cho đến cách biểu diễn. Khi tấu nhạc, nhạc công phải đeo dây trống lên cổ, để trống nằm ngang trước bụng và vận dụng 10 ngón tay khéo léo của ḿnh trên cả hai mặt trống.

Có một điều khác thường là người ta hay đính thêm nắm cơm nếp nhỏ trên mặt trống. Có lẽ cũng v́ vậy mà chiếc trống ấy được mang một danh hiệu nôm na là "Trống cơm" chăng? Tuy vậy có một vài nơi thuộc tỉnh Bắc Ninh như làng Đ́nh Bảng, làng Phù Đổng chẳng hạn, nhạc công không bao giờ đính cơm trên mặt trống.

Theo những nhà khảo cứu về nhạc cụ Việt Nam, dưới triều vua Lê Thánh Tông, đời Hồng Đức (1470), ba ông Trần Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Lương Thế Vinh đă dựa trên nền tảng âm nhạc Trung Hoa, lập thành hai bộ nhạc cho triều đ́nh Việt Nam. Đó là bộ Đồng Văn, chuyên đặt ra nhạc phổ, và bộ Nhă Nhạc chuyên dùng tiếng người để ca hát. Hai bộ nhạc này hoạt động dưới sự điều khiển của quan Thái Thường Quản Đốc, và chỉ chuyên dùng trong việc tế lễ ở triều đ́nh. Nhạc cụ có nhiều thứ: một trống lớn, một kèn lớn, một long sinh, một long phách, một cây đàn có thể ba, bốn hay mười lăm dây, một sáo trúc, một trống mảnh một mặt và một cái sinh tiền.

Cũng trong thời kỳ này, những giàn nhạc giáo phường của tư nhân ra đời và bắt đầu hoạt động mạnh mẽ trong dân gian đi song song với hệ thống âm nhạc của triều đ́nh. Nhạc cụ gồm có: một dùi nhịp bằng tre thường do bà cụ già đánh nhịp; một ống sáo, một cây nhị quyển, một trống cơm, một cây đàn đáy do bốn, năm nhạc công sử dụng; một phách; một sinh tiền, một trống con một mặt do ba nữ nhạc công trẻ tuổi vừa ca hát vừa giữ nhịp (*).

Ta nhận thấy những nhạc cụ trong hệ thống âm nhạc của giáo phường mới có trống cơm. Vậy có thể nó là một nhạc cụ cổ sơ của dân tộc, chính do hạng b́nh dân khi xưa sáng tạo chăng?

H́nh dáng trống cơm mộc mạc bao nhiêu th́ tiết điệu của nó phong phú bấy nhiêu. Nghe "Trống cơm" nhứt định chúng ta không thể lẫn lộn nó với những bài ca ngoại quốc. Nó có giọng u buồn gợi tâm hồn người nhớ đến h́nh ảnh quê hương xa xôi hay nhớ đến một mối t́nh tan vỡ, một niềm tang tóc bi thương của một thành sầu vạn cổ ...

Tục truyền rằng: Ngày xưa có một nho sinh rất nghèo, thi măi không đỗ, túng cùng phải đi xin ăn. Hằng ngày, khi sang ngang nhà của một phú hộ th́ có một cô bé ở chực sẵn đem cho cơm trắng canh ngon. Công việc đó cứ theo thời gian trôi qua một cách đều đặn.

Suốt năm trời như thế, chàng nho sinh vô cùng cảm động nhưng không khỏi ngượng ngùng. Một hôm, chàng tỏ lời cám ơn cô bé và không nhận lănh của cho nữa. Chàng lại từ giă, đi sang ở làng khác kiếm ăn. Cô bé thực thà cho biết việc làm của cô là vâng theo lời dạy của cô Hai, con gái của chủ nhà mà thôi. O*n đó là ơn của cô chủ.

Chàng cảm động, yêu cầu xin gặp mặt cô chủ để tỏ lời cám ơn và từ giă. Cô bé ở hẹn lại hôm sau, để xem cô chủ có bằng ḷng không, rồi sẽ cho biết. Nếu cô chủ bằng ḷng cho gặp mặt th́ chàng cứ chờ tại chỗ này.

Hôm sau, chàng vừa đến th́ đă gặp ngay cô chủ nhà đứng đợi. Nàng rất đẹp. Chàng nho sinh cúi đầu, chấp tay xá nhưng nàng khoát tay vội nói:

- Tôi đă hiểu ư chàng muốn nói ǵ rồi. Tôi ở đây lâu rất bất tiện, mà chàng cũng không cần phải nói ân nghĩa ǵ. Sở dĩ, tôi giúp chàng v́ biết chàng lỡ vận và cảm thương người trong bước đường cùng mới ra nông nỗi, không lẽ chí của người con trai chịu cùng nhụt như vậy măi sao?

Đoạn, nàng trao cho chàng một cái bọc bằng giấy, nói tiếp:

- Nay chàng từ giă đi, tôi xin tặng một số bạc và một cây thoa vàng để chàng t́m cách lập nghiệp. Một ngày nào thành đạt, chàng sẽ trở về quê. Chừng ấy...

Nàng bỏ lửng lời nói, lại quày quả thoăn thoắt đi.

Chàng nho sinh vô cùng cảm động.

Theo lời người ngọc dặn ḍ, chàng cần phải tạo lấy một sự nghiệp, nhưng sự nghiệp ǵ? Chàng không duyên số với đường công hầu danh tướng th́ chàng phải chuyển sang nghê khác. Bất cứ nghề ǵ cũng tốt đẹp cả miễn đừng làm điều ǵ phi nghĩa. Thế là chàng đeo đuổi môn âm nhạc, một nghệ thuật trong 7 nghệ thuật.

Thời gian 3 năm, chàng đă thành tài và lănh đạo một giáo phường. Chàng hớn hở, vui tươi vội quay về quê xưa mong gặp mặt người ân nhân yêu quư. Nhưng thảm thay, chàng vừa đặt chân về nhà nàng, th́ gia đ́nh nàng đương làm đám táng cho nàng. Nàng vừa chết trong một cơn bạo bịnh!

Chàng nhạc sĩ tài hoa vô cùng đau đớn. Chàng muốn đưa đám táng cho nàng. Chàng muốn khóc kể nàng. Chàng muốn để tang cho nàng. Nhưng phải làm sao để mọi người đừng biết việc làm của chàng đối với con người đă khuất?

Chàng liền xin cha nàng cho chàng đem phường nhạc của chàng đến để đưa vong linh người chết. Chàng sáng tạo một cái trống nhỏ dài, hai mặt trống có đính hai nắm cơm nhỏ, để nhắc lại kỷ niệm sâu xa cao đẹp là ngày xưa, nàng đă cho cơm chàng ăn. Sợi dây trống đeo lên cổ bằng vải trắng là chàng để tang nàng.

Lúc đưa đám chàng mang trống cơm lên cổ, để trống nằm ngang trước bụng, vận dụng mười ngón tay vỗ trên mặt trống, phát thành tiếng kêu bi ai, tha thiết:

- "T́nh tang, tang t́nh! T́nh tang, tang t́nh!..."

Đó là tiếng khóc kể kín đáo của chàng đối với người yêu có một tâm t́nh cao thượng, thanh khiết. Đó là tiếng nức nở ở cơi ḷng của một nghệ sĩ đối với mối t́nh đầu đă tan vỡ, mà chàng chỉ c̣n mượn lấy âm thanh của "Trống cơm" để tiễn vong linh nàng.

Tục truyền là như thế.

Ngày nay, trong những đám tang, người ta vẫn c̣n dùng "Trống cơm". Và, người ta vẫn c̣n hát "Trống cơm", nhứt là ở vài làng thuộc tỉnh Bắc Ninh. Dưới đây là bài hát "Trống cơm" do ông Lư Tiến Thành, một danh ca quan họ ở làng Bái Uyên, tỉnh Bắc Ninh, hát; và nhạc sĩ Trần Văn Khê ghi lời:

"(T́nh bằng có cái) trống cơm (khen ai) khéo vỗ (ố mấy bông) nên bông (ố mấy...

"(Bông nên bông), một bầy (tang t́nh) con nít, (một bầy tang t́nh con nít ố mấy...)

"(lội); lội, sông (ố mấy) đi t́m (em nhớ thương ai. (Đôi) con mắt (ố mấy) lim...

"Dim, đôi con mắt (ố mấy) lim dim, một bầy (tang t́nh) con nhện (ơ...

"(O* ố mấy) giăng tơ, giăng tơ (ố mấy) đi t́m (em nhớ) thương ai. Duyên...

"Nợ (khách) tang bồng, duyên nợ (khách) tang bồng."
Reply With Quote
  #14  
Old 04-26-2008, 12:07 PM
ướt mi's Avatar
ướt mi ướt mi is offline
Nhỏ thấy ghét - #1 (top 30 posters)
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 12,823
Thanks: 6
Thanked 14 Times in 14 Posts
Default Re: Điển hay tích lạ

Tác Giả NTQ
Giấc Vu Sơn



Đất Cao Đường, bên cạnh đầm Vân Mộng có hai ngọn núi là Vu Sơn và Vu Giáp thuộc tỉnh Hồ Bắc nước Tàu. Đời Chiến Quốc, vua Sở Tương Vương thường đến du ngoạn. Một hôm, nhà vua đến đấy, say sưa ngắm cảnh, một lúc mệt mỏi mới nằm ngủ dưới chân núi Vu Sơn.

Trong lúc mơ màng giấc điệp, vua Sở mộng thấy thiếu nữ tuyệt sắc, mặt hoa, da phấn, duyên dáng thướt tha đến bên ḿnh, rồi cùng nhà vua chung chăn gối vô cùng thỏa thích.

Sau khi cùng giai nhân ân ái mặn nồng, vua Sở hỏi:

- Chẳng hay ái khanh ở đâu đến đây để quả nhân duyên may gặp gỡ?

Giai nhân mỉm miệng cười duyên, thưa:

- Muôn tâu thánh thượng! Thiếp là thần nữ núi Vu Sơn qua chơi đất Cao Đường, vốn cùng nhà vua có tiền duyên, nay được gặp gỡ thật là phỉ nguyền mong ước. Ở thiên cung, thiếp có nhiệm vụ buổi sớm làm mây, buổi chiều làm mưa ở Dương Đài.

Nói xong, đoạn biến mất. Nhà vua chợt tỉnh dậy, cảm thấy mùi hương như c̣n thoang thoảng đâu đây. Mộng đẹp vơ vẩn trong trí năo, nhà vua thấy luyến tiếc vô cùng. Sau sai người lập miếu thờ (tức miếu Vu Sơn thần nữ) gọi là miếu Triên Viên.

Cảm nhớ người đẹp trong mộng, vua Sở thuật lại cho quan Đại phu Tống Ngọc nghe. Vốn là một danh sĩ đương thời, Tống Ngọc bèn làm bài phú "Cao Đường" để ghi lại sự tích Sở Tương Vương giao hoan cùng thần nữ Vu Sơn:

Tiên vương du Cao Đường

Đái nhi trú tầm.

Mộng kiến nhất phu nhân viết:Vi Cao Đường chi khách,

Văn quân du Cao Đường

Nguyện tiếm chẩm tịch,

Vương nhận hạnh chiKhứ nhi tử viết:Thiếp tại Vu Sơn chi dương

Cao Khâu chi trở

Triệu vi hành vân

Mộ vi hành vũ.

Tạm dịch:

Tiên vương dạo Cao Đường

Mỏi mệt ngủ ngày

Mộng gặp một đàn bà nói:"Thiếp là thần nữ núi Vu Sơn,

Đến Cao Đường làm khách

Tin vua dạo Cao Đường

Nguyện dâng chăn gối"Vua nhận yêu nàng,

Khi đi nàng nói:"Thiếp ở đỉnh núi Vu Sơn

Cao Khâu hiểm trở.

Sớm đi làm mây

Chiều đi làm mưa".

Trong bài "Thanh B́nh điệu" của thi hào Lư Bạch đời nhà Đường, có câu:

Nhất chi nùng diếm lộ ngưng hương,

Vân vũ Vu Sơn uổng đoạn trường.

Tạm dịch:

Đầu cành sương đọng ngát hương đông.

Mây mưa Vu Giáp nỗi đau ḷng.

Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn diễn tả Kim Trọng đương dựa án thiu thiu ngủ, nửa tỉnh, nửa mê th́ Kiều lén song thân, băng lối vườn khuya sang thăm chàng Kim, có câu:

Bâng khuâng đỉnh Giáp non Thần

C̣n ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.

Và, khi chàng Kim tỏ vẻ lả lơi, suồng să, Kiền van lơn, lư luận để tránh cuộc tấn công của người yêu, có câu:

Mây mưa đánh đổ đá vàng,

Quá chiều nên đă chán chường yến oanh.

Trong "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều cũng có câu:

Bỗng gươm lấp loáng dưới mành,

Cỏ cây cũng muốn nổi t́nh mây mưa.

Tôn Thọ Tường làm quan về đời Tự Đức hàng Pháp, lúc về trí sĩ có làm bài thơ "Đĩ già đi tu", mượn tâm cảnh của một người đĩ hết duyên, chán trần về Phật mà tả tâm sự của ḿnh. Trong bài có câu:

Chày ḱnh gióng tỉnh giấc Vu San,

Mái tóc kim sinh nửa trắng vàng.

Những chữ "mây mưa", "giấc Vu Sơn", "giấc Cao Đường", "đỉnh Giáp non Thần" hay "Vu Giáp", "giấc mộng Dương Đài", "đến Dương Đài" đều chỉ việc trai gái chung chạ chăn gối, ấp yêu với nhau.

Dùng những tiếng này để tránh tiếng tục.
Reply With Quote
  #15  
Old 06-26-2008, 12:14 PM
Phonglinh's Avatar
Phonglinh Phonglinh is offline
Nhị Linh Tiểu Nha Đầu
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 1,176
Thanks: 0
Thanked 2 Times in 2 Posts
Default Re: ĐIỂN HAY TÍCH LẠ

Tái ông thất mă

"Tái ông thất mă" là "ông già mất ngựa".

Sách của Hoài Nam Tử có chép:

Một ông lăo ở gần cửa ải Nhạn Môn, nơi giáp giới nước Tàu với Phiên Quốc (Hồ) có con ngựa. Một hôm, con ngựa đi mất. Người quen thuộc đều đến thăm hỏi, chia buồn. Ông lăo nói:

- Mất ngựa thế mà phúc cho tôi đấy, biết đâu!

Cách mấy tháng, con ngựa trở về lại dẫn thêm một con ngựa khác hay tốt. Những người quen thuộc kéo đến xem ngựa và chúc mừng. Ông lăo nói:

- Được ngựa thế mà họa cho tôi đấy, biết đâu!

Từ khi được ngựa hay tốt, con ông lăo thích cưỡi. Chẳng may té què chân. Người quen thuộc đều đến hỏi thăm, chia buồn. Ông lăo nói:

- Con què thế mà phúc cho tôi đấy, biết đâu!

Cách một năm có giặc Hồ. Nhà vua bắt lính đi đánh giặc. Quân lính mười người chết đến chín. Chỉ con ông lăo v́ què, không phải đi lính mà cha con vẫn họp nhau.

"Tái ông thất mă" trở nên một thành ngữ để chỉ sự họa, phúc xoay vần, khó biết trước được. Trong cái phúc thường khi có cái họa; trong cái họa lại có cái phúc. Cổ ngữ cũng có câu: "Họa tùng phúc sở ỷ, phúc tùng họa sở phục".

Sách của Úc Ly Tử cũng có chép:

Một người nhà quê trải cỏ phơi ở chân giậu. Hôm sau ra vơ cỏ, nghe tiếng kêu "tích tích", lật lên xem th́ bắt ngay được một con trĩ.

Anh ta thấy thế lại vẫn để cỏ ở đấy, có ư mong ngày mai lại được con trĩ nữa. Mai ra, lắng tai nghe tiếng "tích tích" như hôm trước, bụng mừng thầm. Nhưng vừa bới cỏ lên th́ ra một con rắn cắn ngay vào tay làm anh ta bị thương rồi chết.

Úc Ly Tử nói: "Trong thiên hạ có cái phúc không tưởng được thế mà may được; cũng có cái họa không ngờ đến thế mà xảy ra thế".

Trong một bài thơ của nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng có câu:

Ḱa tụ tán chẳng qua là tiễn biệt,
Ngựa tái ông họa phước biết về đâu.
__________________
PHONG LINH
Reply With Quote
  #16  
Old 06-26-2008, 12:34 PM
Phonglinh's Avatar
Phonglinh Phonglinh is offline
Nhị Linh Tiểu Nha Đầu
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 1,176
Thanks: 0
Thanked 2 Times in 2 Posts
Default Re: ĐIỂN HAY TÍCH LẠ



Giấc Nam Kha


Trong "Nam Kha kư thuật" của Lư Công Tá đời nhà Đường có kể truyện Thuần Vu Phần nằm mộng thấy chàng đến nước Ḥe An. Thuần được vua Ḥe An cho vào bái yết. Thấy Thuần tướng mạo khôi vĩ nên gả con gái, cho làm pḥ mă và đưa ra quận Nam Kha làm quan Thái thú, cai trị cả một vùng to lớn.

Đương lúc vợ chồng Thuần sống một cuộc vương giả, sung sướng th́ bỗng có giặc kéo đến vây quận Nam Kha. Thuần đem quân chống cự. Giặc đông mạnh, Thuần thua chạy. Quân giặc vây thành đánh phá. Công chúa nước Ḥe An, vợ của Vu Phần chết trong đám loạn quân.

Thuần Vu Phần đem tàn quân về kinh đô tâu lại vua cha. Nhà vua nghi kỵ Thuần đă đầu hàng giặc, nên tước hết phẩm hàm, đuổi về làm thường dân. Thuần oan ức vừa tủi nhục, khóc lóc bi thương... Vừa lúc ấy th́ Thuần chợt tỉnh dậy, thấy ḿnh nằm dưới gốc cây ḥe, trên đầu một nhành cây ḥe chĩa về phía nam. Cạnh Thuần lại có một ổ kiến lớn. Bầy kiến kéo hàng đàn hàng lũ trèo lên cây ḥe.

Cũng có sách chép:

Đời nhà Đường có một nho sinh họ Lữ đi thi không đỗ. Trở về, dọc đường, vừa buồn lại vừa đói nên ghé vào một ngôi chùa con bên cạnh khu rừng, xin đỡ ḷng. Chùa nghèo, nhà sư nấu kê thay gạo đăi khách.

V́ mệt mỏi nên họ Lữ nằm một lúc th́ ngủ kḥ. Chàng thấy ḿnh đă thi đỗ, được quan chức cao, nhà vua lại c̣n gả công chúa, phong cho chàng làm pḥ mă và cho đi trấn nhậm một nơi. Thật là vinh quang phú quư, không ai bằng. Nhưng khi đi đến nửa đường th́ bỗng gặp quân giặc đỗ đến đánh. Lữ chống cự không lại. Lính hộ vệ bị giết. Xe kiệu bị đập phá tan tành. Chúng thộp cổ cả vợ chồng Lữ, đưa gươm kề họng... Lữ hoảng hốt, kêu lên một tiếng, giựt ḿnh thức dậy mới biết là chiêm bao.

Mà giữa lúc ấy nồi kê cũng chưa chín.

Trong tác phẩm "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều, có câu:

Giấc Nam Kha khéo bất b́nh,
Bừng con mắt dậy, thấy ḿnh tay không.

Trong bài "Lạc đường" của Tú Xương cũng có câu:

Giấc mộng Nam Kha khéo chập chờn,

Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, có câu:

Tiếng sen khẽ động giấc ḥe.

Trong "Bích câu kỳ ngộ" cũng có câu:

Đèn thông khêu cạn, giấc ḥe chưa an.

Cổ thi có câu:

Trăm năm một giấc kê vàng.

"Kê vàng" cũng gọi là gạo "hoàng lương", một thứ ngũ cốc nhỏ như cát, màu vàng. Nhà nghèo bên Tàu ngày xưa dùng kê để ăn thay gạo.

Trong "Đoạn trường tân thanh" có câu:

Hoàng lương chợt tỉnh hồn mai.

"Giấc Nam Kha", "Giấc ḥe", "Giấc mộng kê vàng" hay "Giấc hoàng lương" đều do điển tích trên. Có nghĩa sự phú quư vinh hoa chẳng khác nào một giấc mộng.
__________________
PHONG LINH
Reply With Quote
  #17  
Old 06-26-2008, 03:15 PM
chieunhatnang's Avatar
chieunhatnang chieunhatnang is offline
Đi Nhặt Niềm Tin
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 3,978
Thanks: 11
Thanked 24 Times in 13 Posts
Default Re: ĐIỂN HAY TÍCH LẠ

Chuyện cổ tích: Bà Nữ Oa vá trời



Ngày xưa, có vị nữ thần đẹp đẽ và từ bi Nữ Oa đến đất đông phương.
Bà đi đến đâu nơi đó như thêm sức sống.



Một ngày kia, Nữ Oa đến một khu đất rộng. Bà rất vui khi thấy thế giới nơi này ngập tràn tiếng chim hót và hương hoa thơm. Bà không muốn trở về trời và như c̣n thiếu một cái ǵ đó.. Cảm giác ấy không ngưng khi Bà bước đi trên suốt con đường dẫn đến bờ nước. Bà quỳ xuống uống nước và nh́n thấy h́nh ảnh đẹp đẽ của ḿnh khiến Bà nảy sanh ư tưởng tạo ra con người. Bà lấy nắm đất bùn, đắp thành một h́nh tượng nhỏ, dựa theo h́nh ảnh của chính bà. Lạ lùng thay, khi để tượng xuống đất, nó liền sống ngay tức th́! Thật là thần diệu! Nó c̣n gọi Bà bằng hai tiếng ‘Mẹ Mẹ’ và nhảy nhót không ngừng. Bà vui vẻ đắp thêm một tượng nhỏ khác, rồi thêm một tượng nữa và một tượng nữa. Bà làm việc nhiều đến nổi các ngón tay bà sưng lênnhưng các tượng nhỏ mà Bà đắp vẫn c̣n quá ít oi; làm sao chúng có thể đông vầy cả khu đất rộng này? Bànảy sanh ra một ư kiến: Bà lấy một sợi dây leo dài nhúng vào trong đất bùn. Khi Bà dở nó lên, bùn ướt nhiễu xuống từ sợi giây leo và trở thành những con người. Bà Nữ Oa rất thương quư sự tạo dựng này, Bà quá sung sướng và chạy khắp núi sông, không bao lâu mặt đất tràn đầy loài người. Từ đó về sau con người được sống trên thế giới tuyệt diệu này, tạo ra sự thịnh vượng, làm việc bằng đôi tay và sống một nếp sống an vui hạnh phúc.



Nhưng sự phồn thịnh không kéo dài được lâu. Một ngày kia, trận băo lớn kéo đến. Gió thổi và mây giăng đầy trời. Sấm thét gào, rồi một lằn chớp đánh xuống làm cháy cả rừng. Chim thú chạy loạn xạ trong tiếng khóc la đinh óc, phân nửa bầu trời sập xuống. Một thác nước đổ trút xuống làm lửa tắt và rừng cây, đất đai ướt dầm. Ḷng sông từ trời bị gảy đổ. Nước cuồn cuộn trút xuống. Đất bằng gần bị ngập bởi trận hồng thủy. Thấy rằng dân chúng sẽ bị chết đuối, tâm Bà Nữ Oa đau xót. Bà bưng một tảng đá to giơ khỏi đầu và bay một mạch đến nơi lổ hổng mà từ đó sông trời trút nước. Gịng nước quá mạnh khiến Bà Nữ Oa bị xô trở xuống với tảng đá. Bà lại bưng tảng đá và phóng lên, gịng nước lại xô Bà và tảng đá khỏi lổ hổng. Bà Nữ Oa không thất vọng. Bà đi lượm rất nhiều ḥn sỏi đẹp đẽ từ các sông hồ, và chất đóng chúng thành một ḥn núi ngũ sắc đẹp đẽ chiếu sáng rực rỡ. Sau đó Bà đi cắt những cọng lau từ ruộng đất và trộn lẫn chúng với đá sỏi, sau đó đốt cháy lau. Lửa cháy không ngừng trong chín ngày đêm. Nữ thần Nữ Oa bưng những ḥn đá cháy bỏng phóng lên trời. Bà tiếp tục lấp vá trong bảy ngày đêm, cuối cùng lổ hổng lớn được lấp đi.



Trời lại sáng sau cơn mưa, và những áng mây muôn màu bay lơ lững trên bầu trời. Bà Nữ Oa bị cháy nám khắp thân ḿnh. Vị Nữ thần dũng cảm đă thắng một thiên tai thật to lớn. Dân chúng cuối cùng được cứu thoát. Cả đất trời đều tưng bừng. Từ đó bắt đầu một thời vàng son cuộc sống trong ḥa thuận, đàn ông cấy cày, đàn bà dệt vải, và tất cả đều hưởng một nếp sống tốt lành, thịnh vượng. Mang thóc gạo cấy cày được, họ đến cám ơn Bà Nữ Oa. Một chiếc xe mây do rồng kéo, mang vị Nữ thần trở về trời. Các bạn nhỏ, câu chuyện đă hết rồ́. Câu chuyện thần thoại Bà Nữ Oa vá trời vẫn lưu truyền trong nhân gian cho đến ngày nay. V́ sao? V́ loài người có một trái tim và một tinh thần tốt lành, họ luôn muốn kể cho người khác nghe những điều tốt lành. Thượng đế từ bi đối với chúng ta, tái sanh giữa chúng ta khi cần, sẵn sàng hy sinh tất cả để cho chúng ta một tương lai tuyệt vời và không bao giờ đ̣i hỏi một sự phúc đáp nào trong khi cho ra một cách vô vị kỷ.




* * * * *

Nguyên bản tiếng Hán: http://www.zhengjian.org/zj/articles.../13/16716.html.
Bản tiếng Anh: http://www.pureinsight.org/sci/sci/e...t.asp?ID=14997.

nguồn: minhhue.net
__________________
http://motgocpho.com/forums/image.php?type=sigpic&userid=18&dateline=1188265964
Reply With Quote
  #18  
Old 06-26-2008, 03:55 PM
chieunhatnang's Avatar
chieunhatnang chieunhatnang is offline
Đi Nhặt Niềm Tin
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 3,978
Thanks: 11
Thanked 24 Times in 13 Posts
Default Re: ĐIỂN HAY TÍCH LẠ

HĂY LÀ CHÍNH M̀NH

Người thợ đẽo đá nọ luôn luôn buồn bă và bất măn với chính bản thân ḿnh. Một hôm anh ta gặp vị thương gia giàu có và cảm thấy bị choáng ngợp trước những thứ hàng hóa xa xỉ. "Ước ǵ ḿnh cũng là thương nhân", anh lẩm bẩm cầu nguyện. Kỳ lạ thay lời ước của anh bổng chốc trở thành hiện thực.

Không lâu sau đó, anh ta chứng kiến cuộc diễn binh của hoàng gia. Ngắm nh́n hoàng tử trong bộ trang phục lộng lẫy, người thợ đá, lúc này đă là thương gia, lại ước: "Giá như ḿnh là hoàng tử!" Và một lần nữa anh được toại nguyện. Chỉ vài ngày sau, dưới cái oi bức của mùa hè, y phục rườm rà khiến anh khó chịu vô cùng. "Ngay cả hoàng tử cũng không được thoải mái dưới ánh mặt trời. Vậy th́ ḿnh muốn làm Mặt trời". Tuy nhiên niềm vui của chúa tể ánh sáng kéo dài không lâu bởi một ngày kia những đám mây kéo tới che khuất anh ta. Vậy là người thợ đá lại hóa thân thành mây. Nhưng mây chẳng thể nhấc ḿnh lên trên những ngọn núi. Thêm một lời nguyện cầu nữa, người thợbiến thành núi cao hùng vĩ. Được đứng từ trên, thỏa thuê ngắm nh́n mọi vật phía dưới anh thợ đẽo đá cứ ngỡ ḿnh đă t́m thấy hạnh phúc đích thực. Cho đến khi một người thợ đẽo đá khác bắt đầu buông những nhát cuốc vào sườn núi. Anh ta đau đớn nhận ra con người bé nhỏ kia hóa ra mạnh mẽ và sung sướng hơn ḿnh rất nhiều. Cuối cùng anh ước ḿnh trở lại thành thợ đẽo đá như ngày nào.

***
Ngạn ngữ phương Tây có câu: "Cỏ sườn đồi bên kia dường như xanh hơn nhưng rồi cỏ nào chẳng bị cắt sạch". Điều bất hạnh nhất của chúng ta là luôn đem ḿnh ra so sánh với người khác nhưng bạn thấy đấy, mặc đẹp như hoàng tử, tỏa sáng giống Mặt trời hay vươn cao như những ngọn núi chẳng thể làm bạn hạnh phúc hơn. Bạn chỉ hạnh phúc nhất khi được là chính ḿnh. V́ thế hăy trân trọng bản thân bạn nhé!
__________________
http://motgocpho.com/forums/image.php?type=sigpic&userid=18&dateline=1188265964
Reply With Quote
  #19  
Old 07-04-2008, 03:35 AM
Phonglinh's Avatar
Phonglinh Phonglinh is offline
Nhị Linh Tiểu Nha Đầu
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 1,176
Thanks: 0
Thanked 2 Times in 2 Posts
Default Re: Điển hay tích lạ

Ngọc tỉnh liên phú

"Ngọc tỉnh liên" là "Hoa sen trong giếng ngọc". Đây là bài phú của Mạc Đĩnh Chi.

Ông đỗ Trạng nguyên, khi vào bái yết nhà vua, Trần Anh Tông thấy h́nh dung ông xấu xí quá, không muốn cho đỗ. Ông liền làm bài phú "Ngọc tỉnh liên" để tự ví ḿnh. V́ hoa sen vốn có tiết tháo thanh cao, không hoa nào sánh được, tuy gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn; vả lại sen này lại trồng trong giếng ngọc nữa th́ sen càng cao quư biết bao. Ông như sen, dù có phải ở vào hoàn cảnh ô trọc thế nào th́ cũng vẫn giữ khí tiết thanh cao, huống chi ở vào một thời tốt đẹp, vua minh chánh th́ người ông càng cao quư biết mấy. Sen quư nhưng phải có người sành mới biết thưởng thức.

Vua đọc bài phú của ông cho là kiệt tác nên mới yêu dùng.
Dưới đây là bài phú "Ngọc tỉnh liên" dịch ra văn nôm:
"Đương khi lửa hạ, khách cao trai thư thả, lời ḍng nước biếc, vịnh khúc phù dung; đến bến ao trong, ngâm câu nhạc phủ. Bỗng bóng ai, áo trắng mũ vàng, phất phơ điệu cốt xương tiên, hớn hở tinh thần khác tục. Khách hỏi: từ đâu mà lại? Thưa rằng: từ núi Hoa san. Khách kéo ghế mời ngồi vồn vă, này dưa ngon quả quư bày ra. Chuyện gần thôi lại chuyện xa, nói cười lơi lả, tiệc hoa tơi bời. Chuyện xong, mới hỏi khách rằng: khách đây quân tử ái liên chăng là? Tiện đây sẵn có giống nhà, vẫn từng ǵn giữ nâng niu hoa vàng. Nọ đào lư bỉ thô c̣n kém, kể trúc mai đơn lạnh c̣n xa; nào phải giống tăng pḥng câu kỷ, nào phải phường lạc thổ mẫu đơn, cũng chẳng phải đông ly đào cúc, mà cũng không cửu uyển linh lan; chính là một giống sen thần, đầu non núi Họa giếng vàng sinh ra. Khách nghe nói: khen thay quư lạ! Phải chăng giống hoa cao mười trượng, ngó cong như thuyền, lạnh giá như băng, ngọt ngon tựa mật, xưa từng nghe tiếng, nay được thực trông. Nghe qua đạo sĩ vui ḷng, hoa trong tay áo giữ liền tặng đưa. Khách trông thấy trong ḷng hồi hộp, bút ngũ lăng tay thảo nên ca.

Ca rằng:

Thủy tinh làm mái cung đ́nh
Lưu ly lạc để nên h́nh cung môn,
Pha lê nát nhỏ làm bùn,
Minh châu làm nóc trên cành tưới cây.
Hương thơm bay thấu từng mây,
Bích thiên âu cũng mê say tấc ḷng.
Quế xanh khóc vụng tủi thầm,
Tố Nga luống những mười phần giận thân.
Cỏ dao hái chốn Phương tân,
Sông Tương trông ngóng mỹ nhân dăi dầu.
Giữa ḍng lơ lửng v́ đâu?
Non sông đất cũ cớ sao chẳng về?
Đành nơi lưu lạc quản ǵ,
Thuyền quyên lỡ bước lắm bề gian truân.
Một ḷng trung chính nghĩa nhân.
Lo chi mưa gió, phong trần, tuyết sương!
Chỉn e lạt phấn phai hương,
Tháng ngày thắm thoát, mỹ nhân ai hoài.

Nghe xong, đạo sĩ than rằng: Nói chi ai oán thiết tha! Ḱa chẳng xem đóa tử vi nở trên ao phượng, hoa thược dược mọc trước bệ vàng, cũng là địa vị thanh cao, thanh danh hiển hách, ơn trên thánh chúa, mưa móc dồi dào. Vội chi tủi phận hờn duyên, nước non lẩn thẩn toan bề đi đâu? Khách nghe nói như t́nh, như cảm, đem ḷng kính mộ xiết bao. Khúc trai đ́nh tay tiên đề vịnh, thơ phong đầu giọng ngọc ngâm nga. Nỗi ḷng xin giải gần xa, kính dâng một phú hải hà xét xoi. (Bản dịch của C... Đ...)

Mạc Đĩnh Chi người làng Lũng Động, huyện Chí Linh (nay thuộc phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương), thông minh tuyệt vời, diện mạo rất xấu xí. V́ cái xấu xí đó mà suưt chút con đường hoạn lộ của ông bị bế tắc; tuy vậy mà cũng nhờ đó, ông để lại cho đời một bài phú "Ngọc tỉnh liên" có giá trị.

Ông tài giỏi quá nên đời ông có nhiều giai thoại ngộ nghĩnh nửa thực nửa hư. Ông được người tôn sùng là "Lưỡng quốc Trạng nguyên". V́ ông đỗ Trạng nguyên ở nước nhà, rồi đi sứ sang Tàu, ông lại được vua Tàu sau khi xem văn ông lại cầm viết phê là Trạng nguyên nữa. Thật là chuyện nửa tin nửa ngờ.

Nguyên ông đi sứ sang Tàu đời nhà Nguyên. Khi vào triều, vừa gặp người ngoại quốc dâng nhà vua một cây quạt. Vua bảo ông làm một bài minh (một thể văn ngày xưa) để đề vào quạt. Ông cầm bút viết ngay:

Lưu kim thước thạch, thiên địa vi lô
Nhĩ ư tư thời hề, Y, Chu cự nho.
Bắc phong kỳ lương, vũ tuyết tái đồ,
Nhĩ ư tư thời hề, Di, Tề ngă phu,
Y! Dụng chi tắc hành, xă chi tắc tàng
Duy ngă dữ nhĩ hữu thị phù!
Nghĩa là:

"Vàng chảy đá tan, trời đất như ḷ lửa, lúc ấy ngươi được như Y Doăn, Chu công là bực cự nho.
Gió bấc lạnh lùng mưa tuyết đầy đường, lúc ấy ngươi phải như Bá Di, Thúc Tề là kẻ bị đói.
Ôi! Dùng th́ làm, bỏ th́ cất,
Ta cùng ngươi cũng giống nhau chăng?"

Quần thần nhà Nguyên thấy bài minh cho là hay, cực kỳ khen ngợi. Có truyện chép: từ chữ "Y" trở xuống, vua Nguyên phê 4 chữ "Lưỡng quốc Trạng nguyên". Ông đi sứ tàu, v́ trời mưa gió nên đến cửa ải trễ. Lính đă đóng cửa. Nhưng muốn thử tài sứ Việt, quan Tàu đưa một vế câu đối xuống để ông đối. Vế rằng:

"Quá quan tŕ, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan"

Nghĩa: "Qua ải chậm, cửa ải đóng, xin khách qua qua ải".

Ông liền đối:

"Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh trên đối"

Nghĩa: "Ra đối dễ, đối lại khó, xin mời tiên sinh đối trước".

Người Tàu phục tài mở cửa quan cho qua.

Một quan Tể tướng nhà Nguyên mời ông vào phủ, cùng ngồi đàm luận. Trong phủ có treo một bức trướng thêu con chim sẻ vàng (hoàng tước) đậu trên cành trúc. Thêu khéo đẹp quá, ông tưởng là chim thật, bước đến đưa tay bắt. Người Nguyên cười ầm lên. Ông liền kéo ngay bức trướng xé toang ra. Chúng lấy làm lạ hỏi. Ông nói:

- Tôi nghe người ta họa bức mai tước (cây mai và chim sẻ) th́ có, chớ chưa thấy họa bức trúc tước (cây trúc và chim sẻ) bao giờ. Vả chăng trúc là quân tử, tước là tiểu nhân, nay bức trướng thêu trúc tước, ấy là cho tiểu nhân đứng trên quân tử. Tôi sợ e quân tử đạo tiêu, tiểu nhân đạo trưởng, nghĩa là quân tử suy mà tiểu nhân thịnh, cho nên tôi v́ Thánh triều mà trừ đi đó. Chúng nghe rất lấy làm phục.
__________________
PHONG LINH
Reply With Quote
  #20  
Old 07-04-2008, 01:56 PM
minou's Avatar
minou minou is offline
Silver Sponsor
 
Join Date: Dec 2007
Posts: 1,091
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Default Re: Điển hay tích lạ

Lá Thắm Chỉ Hồng

Lúc t́nh đến độ, Kim Trọng ướm chuyện trăm năm. Thúy Kiều thỏ thẻ thưa:

Dẫu khi lá thắm chỉ hồng
Nên chăng th́ cũng tại ḷng mẹ cha.

Lá thắm, theo điển tích là thư từ qua lại của đôi lứa trong ngày con thơ . Nước Sở có thành Tây Độ Quan trấn thủ là Kiều Công Di có aí nữ là Kiều Nga, một giai nhân tuyệt sắc. Bấy giờ, t́nh h́nh trộm cướp như rươị dân t́nh không được an cư lạc nghiệp. Nội thành dành cho người quyền quí; ngoại thành cho thứ dân. Cửa thành luôn được canh pḥng nghiêm ngặt, thường dân ra vào bị xét hỏi rất ngặt.

Giai nhân Kiều Loan đă thầm yêu trộm nhớ chàng nho sinh mạc rệp Kim Ngọc. Nhà chàng ở ngoại thành, nghèo rớt mồng tơi. Cậu học tṛ không dễ ǵ qua được cổng thành, nói chi đến chuyện lọt được nha môn để gặp gỡ người yêu. Bên này bên kia thành quách mà tưởng như núi non ngh́n trùng. Không gặp nhau được, mỗi người chỉ biết nh́n gịng sông thở vắn than dài. Sông kia, mỗi ngày hai lần triều lên xuống, con nước từ ngoại thành đi vào rồi lại chảy rạ Theo triều lên xuống, đôi gái trai đă viết thơ trên lá, thả xuống sông, nhờ gịng nước mà trao đổi tâm t́nh cho thỏa nhớ thương. Gịng sông đă trở thành gịng lá thắm.

Những câu nói trong dân gian như lá thắm, tơ hồng vươn vấn hoặc nguyệt lăo xe tơ đều lấy trong điển tích ông tơ bà nguyệt. Theo Thần tiên tuyện , thời Nguyên Ḥa nhà Đường rất thái b́nh, có quan đại thần Chung Thôi rất giàu sang, thuộc vào hàng danh gia vọng tộc. Quư tử của Chung Thôi la Chung Hạo thông minh đĩnh ngộ; mới 12 tuổi đa ~ văn hay chữ tốt, quan lại trong triều ai cũng khen ; các vị có con gái đều mong muốn kết sui gia với Chung Thôi.

Ngoài thời gian vui thú cùng cầm kỳ thi họa, Chung Hạo cũng thường theo cha đi săn bắn. Một hôm đi săn, mải đuổi theo con thỏ, Chung Hạo lạc vạ rừng sâu, quanh co cả ngày không t́m được lối rạ Đêm xuống lạnh giữa rừng hoang, Hạo bắt đầu thấy sợ Dưới ánh trăng bỗng nghe tiếng suối róc rách. Chàng lần đến t́m nước uống. Bên bờ suối, trong hang đá, một bà lăo đang ngồi xe chỉ, màu chỉ đỏ thắm. Chung Hạo khẽ bước lại gần, kính cẩn thưa:

- Tiểu nhân đi săn, bị lạc đường. Xin hỏi nơi đây là đâu, sao lăo bà lại ngồi một ḿnh xe chỉ đỏ

- Đây là động tiên. ta đang ngồi xe duyên cho những đôi t́nh yêu nhau dưới trần gian. Chỉ này là dây tơ hồng. Ta xe nhiều hay ít th́ trai gái cũng theo đó mà thương yêu nhau nhiều hay ít. Ta muốn đôi trai gái nào nên vợchồng th́ ắt chúng sẽ kết duyên, không xa ĺa nhau được.

- Vậy thưa lăo bà có thể cho tiểu nhân biết sau này sẽ được sánh duyên cùng ai ?.

Lăo bà đưa mắt nh́n vào bên trong động. Ở đó có một ông lăo đang cúi gầm trên một cuốn sách dày cộm.

- Kià là ông tợ Công tử muốn biết th́ hỏi ông ấỵ

Ông lăo hỏi tên tuổi Chung Hạo rồi lật từng trang sách ra tra cứu:

- Sau này công tử sẽ được xe duyên với Tố Lan, con gái một mụ ăn mày ở chợ Đông, gần kinh thành.

Laơ ông chưa dứt lời, Chung Hạo đă đùng đùng nổi giận. Đường đường là một quí tử của quan đại thần, tài nghệ, văn hay chữ tốt khó ai b́ kịp mà sau này lại kết duyên cùng vơi con gái mụ ăn mày. Tức tối, chàng quay bước đi, không một lời chàọ Ông tơ vẫn chúi đầu trong sổ bộ, bà nguyệt vẫn b́nh thản xe xe chỉ hồng.

Chung Hạo chaỵ thụt mạng suốt đêm trong rừng sâụ May mắn, sáng sớm mai, gặp được quân lính triều đ́nh đang tỏa đi t́m kiếm. Trở về dinh, sau ngày đó, chàng công tử đâm ra biến ăn lười nóị Lời tiên tri của ông tơ như cứ lởn vởn rít ra trong đầu. Đến một hôm, không không d́m được sự thôi thúc, Chung Hạo cùng một gia đồng t́m xuống chợ Đông. Vừa đến đầu chợ, đă gặp ngay một đứa bé gái chừng 9 tuổi mặt mày lem luốc, áo quần rách bươm, dắt theo một bà ăn xin mù ḷa. Tên gia đồng dọ hỏi th́ biết được tên của con bé là Tố Lan. Chung Hạo thất kinh, ù té chạy về dinh, tâm thần hoảng loạn. Không được, không thể nào, ta lại chịu khuất phục số mệnh, để làm chồng một con bé ăn mày bẩn thỉu như vậy được. Làm thế nào đâỵ Suy nghĩ cạn nước, chỉ c̣n cách làdiệt trừcái mầm định mệnh khắc nghiệt đó đi..

Với rắp tâm sẵn, một buổi sáng Chung Hao một ḿnh t́m xuống chợ Đông. Anh ta đứng nấp sau một thân cây lớn. Cô bé dắt mẹ đi qua. Chàng ta cầm ḥn đá, liệng ngay vào đầu con bé rồ́ ù chạỵ Sau đó, ḍ hỏi tin tức th́ được biết con bé bị thương tích quá nặng, e không sống được; và rồi bà lăo mù cũng không c̣n thấy ăn xin giữa chợ Đông nữa.

Bảy năm saụ Chung Hạo đă nên danh phận. Nghe tin thiên hạ bàn tán ở huyện Trúc Giang có con gái quan Thái úy nổi danh là một giai nhân sắc nước hương trời, tên là Thảo Nương. Vương Tôn công tử gần xa, ngày đêm đến cầu thân, nhưng chưa ai được kén chọn. Chung Hạo t́m đến, thuê một pḥng trọ trước phủ đường. Mới một lần t́nh cờ nh́n thấy Thảo Nương, Chung Hạo chao động cả ḷng. Chàng vội quay trở về nhà, xin phụ thân Chung Thân tính đường mai mốị Hai gia đ́nh là môn đăng hộ đối, nên việc kết hôn sớm viên thành . Đôi uyên ương nên vợ chồng yêu nhau mặn nồng.

Một hôm, Chung Hạo âu yếm gội đầu cho Thảo Nương. Thấy vợ ḿnh có mộ t cái thẹo lớn đàng sau gáy, chàng hỏi:

- V́ sao có cái thẹo này ?

- Nguyên, thiếp là con một bà ăn mày mù ở chợ Đông. Lúc nhỏ, một hôm đang dắt mẹ đi ăn xin, không hiểu sao lại có một kẻ xấu cầm đá ném vào đầu. thiếp, thương tích nặng, tưởng đă ĺa đời. May nhờbà con tận t́nh cứu chữa. Và sau đó, may mắn được quan Thái úy có ḷng từ tâm, lại hiếm muộn , nên đem hai mẹ con thiếp' về nuôi dưỡng. Thiếp' được nghĩa phụ dạy dỗ, cho ăn học. Mẹ thiếp qua đời. Thiếp được giúp việc bút nghiên cho nghĩa phụ nơi công đường. Đă rất nhiều đám đến dạm hỏi, nhưng đều bị từ chối. Lạ thay, bên nhà chàng vưa ngỏ , th́ dưỡng phụ bằng ḷng ngay. Chúng ta đẹp duyên ngày nay chắc là có duyên nợ

- Không, Thảo Nương nàng ơị Nếu là định mệnh th́ nàng phải là...

- Tố Lan. Tố Lan là tên của thiếp lúc c̣n bé. Sau khi được đưa về dinh, nghĩa phụ đă xin ư mẹ, đổi tên này.

Thiên Hạo đă tin hẳn duyên giai ngẫu là do thiên định. Chàng say đắm ngắm nh́n cái duyên số Tố Lan của ḿnh và khẽ ngâm:
Hữu duyên thiên lư năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng

(Có duyên ngàn dặm xa vẫn gặp
Không duyên tận mặt vẫn cách ḷng)


Sưu Tầm
Reply With Quote
Reply

Thread Tools

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off

Forum Jump


All times are GMT -7. The time now is 12:05 AM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.7
Copyright ©2000 - 2017, vBulletin Solutions, Inc.
Người Việt Năm Châu