Welcome to Người Việt Năm Châu. Chúc tất cả Anh Chị Em một ngày b́nh yên, may mắn và hạnh phúc... XIN ĐỪNG QUÊN: Hơn 80 triệu đồng bào VN đang bị nhốt trong cái nhà tù lớn mệnh danh XHCNVN của lũ quốc tặc Việt cộng ...

Trang Chính Diễn Đàn About NVNC Một Góc Phố Một Góc Phố US MGP phpBB Lư Lạc Long
Pḥng Phát Thanh VietKey Online NVNC Làm Quen Cyber Cafe Văn Học Nghệ Thuật Xă Hội Tin Tức Thời Sự
Go Back   NGƯỜI VIỆT NĂM CHÂU > 4. XĂ HỘI - ĐỜI SỐNG - KHOA HỌC KỸ THUẬT > Góc Kinh Nghiệm Sống & Gỡ Rối > KNS & Danh Ngôn Ca Dao
FAQ Members List Calendar Mark Forums Read

KNS & Danh Ngôn Ca Dao Chia xẻ KNS và sưu tầm danh ngôn ca dao

Reply
 
Thread Tools
  #1  
Old 02-15-2008, 08:35 PM
ướt mi's Avatar
ướt mi ướt mi is offline
Nhỏ thấy ghét - #1 (top 30 posters)
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 12,823
Thanks: 6
Thanked 14 Times in 14 Posts
Default Điển hay tích lạ

- Tác Giả : Nguyễn Tử Quang
- Duyên nợ ba sinh


"Ba sinh" do chữ "Tam sinh" nghĩa là ba kiếp luân chuyển: kiếp này sang kiếp khác. Duyên nợ ba sinh là duyên nợ từ ba kiếp với nhau. Ư nói duyên nợ phải làm vợ chồng với nhau do số kiếp tiền định.

Trong bài thơ "Khóc ông phủ Vĩnh Tường" của Hồ Xuân Hương có câu:

Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi,

Cái nợ ba sinh đă trả rồi!

Trong "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du cũng có câu:

Ví chăng duyên nợ ba sinh,

Th́ chi đem giống khuynh thành trêu ngươi.

Sách "Truyền đăng lục" và sách "Quần ngọc chú" có chép:

Xưa có chàng Tỉnh Lang, một hôm đến chùa Nam Huệ tự, nằm chơi, bỗng ngủ quên, chiêm bao thấy ḿnh đi chơi non Bồng. Tỉnh Lang nh́n thấy một nhà sư ngồi niệm kinh, trước mặt có một cây nhang đương cháy. Tỉnh Lang thấy lạ, hỏi. Nhà sư đáp:

- Khi trước có một người đi cúng chùa, thắp cây nhang này, khấn nguyện. Nhang hăy c̣n cháy mà người ấy đă sinh ba kiếp rồi. Kiếp đầu nhà Đường, đời vua Huyền Tông, làm quan Phủ sứ ở đất Kiến Nam. Kiếp thứ hai cũng đời Đường, đời vua Hiến Tông, làm quan đất Tây Thục. Kiếp thứ ba, sinh ra tên Tỉnh Lang.

Tỉnh Lang nghe đến tên ḿnh bỗng giựt ḿnh tỉnh dậy, nhưng ḷng nửa tin nửa ngờ.

Lại có một điển tích khác.

Đời nhà Đường (618-907), có nhà sư tên Viên Trạch, một hôm cùng bạn là Lư Nguyên Thiện đi chơi. Gặp một mụ đàn bà gánh nước, Viên Trạch nói:

- Người đàn bàn này đă có mang ba năm đợi tôi vào làm con. Nay đă gặp đây, không thể nào trốn được. Hẹn ba ngày nữa, bạn đến, ta lấy nụ cười làm tin. Mười ba năm sau, ta lại sẽ gặp nhau tại chùa Thiên Trúc ở Hàng Châu, vào đêm Trung Thu trăng sáng.

Chiều đó, sư Viên Trạch mất.

Người đàn bà nọ sinh con trai. Ba hôm sau, Lư đến thăm. Quả nhiên đứa bé thấy Lư th́ cười, đúng như lời hẹn. Mười ba năm sau, Lư đến chùa Thiên Trúc ở Hàng Châu, thấy một cậu chăn trâu hát rằng:

Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn,

Thưởng nguyệt ngâm phong bất yếu luân,

Tàm qui t́nh nhân viễn tương phỏng

Thử thân tuy dị, tính thường đồng.

Nghĩa:

Là tinh hồn cũ đă ba sinh,

Trăng gió làm chi để bận ḿnh.

Thẹn với người quen xa viếng hỏi,

Thân này tuy khác, tính nguyên lành.

"Ba sinh" có nghĩa là số kiếp tiền định. "Nợ ba sinh" là nợ số kiếp tiền định, duyên số với nhau từ kiếp trước.
Reply With Quote
  #2  
Old 02-15-2008, 08:36 PM
ướt mi's Avatar
ướt mi ướt mi is offline
Nhỏ thấy ghét - #1 (top 30 posters)
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 12,823
Thanks: 6
Thanked 14 Times in 14 Posts
Default Re: Điển hay tích lạ

Chắp cánh, liền cành

- Nguyễn Tử Quang


"Chắp cánh, liền cành" tức là "Chim chắp cánh, cây liền cành".

Sách Nhĩ Nhă chép: Chim Kiêm giống chim le le, lông màu xanh, chỉ có một cánh và một mắt, thường ở phương Nam. Mỗi khi muốn bay th́ hai con phải chắp cánh với nhau mới bay được.

Chim này gọi là tỷ dực điểu, cũng gọi là Kiêm Kiêm.

Cây liền cành là cành của hai cây giao nhau.

Nguyên đời Chiến Quốc (479-221 trước D.L.) vua nước Tống tên Yển vốn người hiếu sắc, dâm bạo. Một hôm đến chơi ở g̣ Phong Phụ, bắt gặp một phụ nữ hái dâu rất đẹp. Vua dọ hỏi biết là vợ của nho sĩ Hàn Phùng, người họ Tức. Vua liền cho đ̣i Hàn, bảo đem vợ lại hiến ḿnh. Hàn sợ uy quyền, về thuật cho vợ nghe và khóc hỏi có bằng ḷng không? Tức Thị làm thơ để tỏ ư ḿnh:

Núi nam có con chim

Núi bắc giăng lưới bắt.

Chim mặc sức bay cao,

Lưới kia đành quăng vất.

Vua Tống say mê sắc đẹp của nàng, theo đuổi không thôi. Liền sai người đến tận nhà Hàn, cướp lấy người ngọc. Hàn thấy vợ bị bắt đưa lên xe đi, ḷng như dao cắt, biết không phương giải cứu, kiếp này khó họp, đau đớn quá mà tự tử.

Vua Tống đem Tức Thị lên đài Thanh Lăng, cưỡng bách, bảo nàng:

- Ta đây là vua một nước, có đủ uy quyền sinh sát trong tay. Muốn phúc, ta cho phúc. Muốn họa, ta cho họa. Phương chi chồng nàng đă chết, nàng c̣n ở với ai. Nếu bằng thờ quả nhân, cùng tay bắt mặt kề th́ sẽ được phong hoàng hậu.

Tức Thị nổi giận làm thơ tỏ ư ḿnh:

Chim có trống mái,

Chẳng theo phượng hoàng.

Thiếp là thứ dân,

Chẳng thích Tống Vương.

Vua Tống tức quá, bảo:

- Nàng đến đây rồi, dẫu không muốn thờ ta cũng không thể được.

Tức Thị thấy thế cùng, nói:

- Để thiếp tắm gội, thay áo, lạy linh hồn chồng cũ rồi sẽ xin hầu đại vương.

Vua Tống bằng ḷng cho.

Tức Thị tắm gội, thay áo xong, ngửa trông lên không, chắp tay vái hai vái rồi từ trên lầu đâm đầu xuống. Vua Tống hoảng hốt, vội níu lại nhưng không kịp, trông nàng đă tắt thở rồi. Khám xem trong ḿnh nàng có một bức thư. Đại ư nói: sau khi chết xin cho đem thi thể cùng chôn một mộ với chồng, dưới suối vàng sẽ đội ân sâu.

Vua Tống cả giận, cho người chôn riêng một nơi, làm hai mộ cách xa nhau. Được ba hôm, bỗng một đêm có giống cây Văn Tử mọc ở cạnh hai ngôi mộ. Chỉ trong tuần nhật, cây ấy dài hơn ba thước, những cành quấn quít lấy nhau như một. Thỉnh thoảng có một đôi chim uyên ương đậu ở trên cành, giao đầu kêu nhau một giọng bi thương. Người trong xóm thương xót, cho đó là oan hồn của vợ chồng Hàn Phùng hóa sinh; và gọi thứ cây ấy là "Cây tương tư".

Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du có câu:

Trong khi chắp cánh liền cành,

Mà ḷng rẻ rúng đă dành một bên.

"Chắp cánh liền cành" ư nói: vợ chồng gắn bó.

Trong "Chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn, có câu:

An đắc tại thiên vị tỷ dực điểu,

Tại địa vị liên lư chi.

Bà Đoàn Thị Điểm diễn nôm:

Thiếp xin về kiếp sau này,

Như chim liền cánh, như cây liền cành.

Trong "Trường hận ca" của Bạch Cư Dị đời nhà Đường bên Tàu, đoạn thuật lời thề giữa đêm thất tịch của Đường Minh Hoàng cùng Dương Quí Phi tại điện Trường Sinh, có câu:

Tại thiên nguyệt tác tỷ dực điểu,

Tại địa nguyện vi liên lư chi.

Nghĩa là:

Trên trời nguyện hóa chim liền cánh,

Dưới đất làm cây nhánh dính liền

để nói ư: vợ chồng gắn bó chung thủy đời đời, không bao giờ xa rời nhau.
Reply With Quote
  #3  
Old 02-15-2008, 08:37 PM
ướt mi's Avatar
ướt mi ướt mi is offline
Nhỏ thấy ghét - #1 (top 30 posters)
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 12,823
Thanks: 6
Thanked 14 Times in 14 Posts
Default Re: Điển hay tích lạ

- Tác Giả : Nguyễn Tử Quang
- Nằm gai, nếm mật


"Nằm gai nếm mật" do chữ "Ngọa tân thường đảm".

Đời Xuân Thu (722-479 trước D.L.), hai nước Ngô và Việt đánh nhau. Sau trận đại bại tại Cối Kê, vua Việt là Câu Tiễn phải ḿnh trần sang lạy vua Ngô là Phù Sai xin hàng. Ngô vương bắt vợ chồng Câu Tiễn phải sang Ngô làm con tin, có quan Tướng Quốc là Phạm Lăi theo hầu. Cả ba đều bị giam trong ngục đá.

Hằng ngày vợ chồng Câu Tiễn và Phạm Lăi phải cắt cỏ, hốt phân ngựa, gánh nước rửa dọn chuồng ngựa, kiếm củi nấu cơm... Suốt thời gian ba năm, chúa tôi sống một cách vô cùng vất vả cực nhọc, những vẫn bền chí đợi thời.

Một hôm vua Ngô đau, Câu Tiễn nghe theo lời của Phạm Lăi là chịu nếm phẩn của vua Ngô để được vua Ngô tin kẻ hàng giữ dạ trung thành. Nhờ đó mà cả ba được phóng thích về nước.

Được trở về cố quốc, nhớ đến nỗi thất bại nhục nhă và bị giam cầm làm nô lệ, Câu Tiễn vô cùng căm uất, ḷng canh cánh mưu toan báo thù. Tướng quốc Phạm Lăi nói:

- Chúa công chớ lúc nào quên cái nhục ở ngục đá th́ mới có cơ báo thù được nước Ngô.

Câu Tiễn đáp:

- Xin vâng lời dạy bảo!

Bấy giờ giao quốc chính cho Văn Chủng, giao quân chính cho Phạm Lăi, nhà vua tôn hiền đăi sĩ, kính người già, thương kẻ nghèo, đối xử trăm họ như anh em nên được mọi người mến phục.

Đến mùa làm ruộng, Câu Tiễn cũng vác cày đi càỵ Vương phi Câu Tiễn cũng chăm việc dệt cửi. Cùng đám dân chia sự lao khổ, ăn mặc rất tiết kiệm.

Muốn gấp báo thù, Câu Tiễn cố sức chăm chỉ làm việc suốt ngày đêm. Khi nào buồn ngủ th́ lấy cỏ lục (rau răm) xoa vào mắt cho cay làm mắt phải mở. Chân lạnh muốn co th́ dầm nước lạnh. Mùa đông lạnh th́ ôm giá. Mùa hè nóng nực th́ ngồi bên lửa. Bỏ cả giường nệm, lấy gai lấy củi lót nằm. Quả mật luôn luôn treo ở chỗ ngồi, chỗ nằm, thỉnh thoảng lại nếm một ít như để nhắc lại nỗi tủi nhục, khổ đau. Đêm nào cũng sùi sụt khóc. Khóc chán lại thở dài. Hai chữ "Cối Kê" lúc nào cũng lẩm nhẩm ở miệng.

Theo 7 kế phá Ngô của Văn Chủng, mới thi hành được 3 th́ nước Việt hưng thịnh, nước Ngô suy. Cuối cùng nước Việt báo được thù, thôn tính nước Ngô, và vua Ngô tự tử.

Trong bài "Văn tế trận vong tướng sĩ" của Nguyễn Văn Thành đời vua Gia Long, có câu: "Nằm gai nếm mật chung nỗi ân ưu; mở suối bắc cầu riêng phần lao khổ".

"Nằm gai nếm mật" có nghĩa chịu những việc lao khổ để trả thù cho kỳ được là do điển tích trên.
Reply With Quote
  #4  
Old 02-15-2008, 08:39 PM
ướt mi's Avatar
ướt mi ướt mi is offline
Nhỏ thấy ghét - #1 (top 30 posters)
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 12,823
Thanks: 6
Thanked 14 Times in 14 Posts
Default Re: Điển hay tích lạ

Lá thắm đưa duyên


Triều vua nào cũng vậy, nhiều giai nhân tuyệt sắc trong nước được tuyển vào cung để làm cung nữ. Họ là những giai nhân bạc mạng, đi chẳng có về, suốt đời chịu cảnh lạnh lùng, buồn tủi, sầu đau trong chốn thâm cung.

Nhà vua có cả tam cung, lục viện, hàng ngàn cung nữ phi tần toàn bực diễm kiều, tài sắc cả. Mỗi đêm ngủ ở cung nào, nhà vua phải nhờ xe dê đưa đến. Xe dừng trước cung nào th́ nhà vua vào cung ấy. Có những nàng hằng năm không được đoái hoài, đành chịu cảnh cô pḥng giá lạnh.

Đời Đường (618-907), đời vua Hy Tông có nàng cung nữ tuyệt sắc tên Hàn Thúy Tần sống cảnh lẻ loi buồn bực trong thâm cung, nên thường nhặt những chiếc lá đỏ (hồng diệp) rồi đề thơ lên trên lá, thả xuống ng̣i nước:

Nước chảy sao mà vội?

Cung sâu suốt buổi nhàn.

Ân cần nhờ lá thắm

Trôi tuốt đến nhân gian.

Nguyên văn:

Lưu thủy hà thái cấp

Cung trung tận nhật nhàn.

Ân cần tạ hồng diệp.

Hảo khứ đáo nhân gian.

Chiếc lá chở bài thơ theo ḍng nước chảy xuôi ra ngoài ṿng cấm lũy. Lúc bấy giờ có người môn khách của quan Tể Tướng Hàn Vinh tên Vưu Hựu vốn kẻ phong lưu tài tử, thơ hay, chữ tốt, chỉ hiềm một nỗi vận chưa đạt nên đành chịu sống nhờ nơi quan Tể Tướng họ Hàn. Đương thơ thẩn ngắm ḍng nước chảy, Hàn bỗng nh́n thấy chiếc lá có bài thơ, lấy làm lạ mới vớt lên xem. Cảm t́nh chan chứa với người gởi thơ lạ mặt, chàng cũng bẻ một chiếc lá, viết một bài thơ vào đấy, đợi ḍng nước xuôi mới thả lá xuống cho trôi trở vào cung.

Nghe oanh thấy liễu chạnh ḷng thương,

Thương kẻ trong cung lúc đoạn trường.

Chiếc lá đề thơ trôi mặt nước,

Gởi cho ai đó nói không tường.

(Bản dịch của Phan Như Xuyên)

Người cung nữ họ Hàn thường ngồi nh́n ḍng nước chảy, bỗng bắt được chiếc lá trở vào của người không quen biết, mới đem cất vào rương son phấn.

Ba năm sau, nhà vua sa thải một số cung nữ, trong đó có Thúy Tần. Nàng đến ở tạm dinh quan Tể Tướng họ Hàn để chờ thuyền trở về quê cũ, bỗng gặp Vưu Hựu. Hai người tṛ chuyện, ư hợp tâm đầu. Tể Tướng họ Hàn thấy cả hai đều xứng đôi vừa lứa nên làm mối thành duyên giai ngẫu.

Đêm tân hôn, Hựu chợt mở rương của vợ thấy chiếc lá của ḿnh ngày xưa. Lấy làm lạ lùng, chàng cũng đem chiếc lá của ḿnh vớt được cho vợ xem. Th́ ra cả hai lại giữ hai chiếc lá của nhau. Cho là thật duyên trời định.

Cổ thi có bài: (*)

Một đôi thi cú theo ḍng nước

Mười mấy năm qua nhớ dẫy đầy.

Mừng bấy ngày nay loan sánh phụng

Cũng nhờ lá thắm khéo làm mai.

Nguyên văn:

Nhất liên giai cú tùy lưu thủy,

Thập tải ưu tư măn tố hoài.

Kim nhật khước thành loan phượng lữ,

Phương tri hồng diệp thị lương môi.

Trong "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, có câu:

Thâm nghiêm kín cổng cao tường,

Cạn ḍng lá thắm, dứt đường chim xanh.

hay:

Dù khi lá thắm chỉ hồng,

và:

Nàng rằng hồng diệp xích thằng,

Nên chăng th́ cũng tại ḷng mẹ cha.

"Lá thắm", "Hồng diệp" đều do điển tích trên.
Reply With Quote
  #5  
Old 02-15-2008, 08:44 PM
ướt mi's Avatar
ướt mi ướt mi is offline
Nhỏ thấy ghét - #1 (top 30 posters)
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 12,823
Thanks: 6
Thanked 14 Times in 14 Posts
Default Re: Điển hay tích lạ


- Tác Giả : Nguyễn Tử Quang

- Nghiêng nước nghiêng thành

Đời Vũ Đế nhà Hán (140-86 trước D.L.), có một người phường chèo tên Lư Diên Niên múa hát rất giỏi. Được hầu trong nội điện, cung vi của nhà vua, Lư Diên Niên được nghe vua thường than thở:

- Trẫm lập đền Minh Quang, kén hai ngàn mỹ nhân ở vùng Yên Triệu. Nhỏ nhất 15 tuổi, quá 30 tuổi sa thải cho lấy chồng. Thế mà, trong chốn dịch đ́nh có trên 10 ngàn mỹ nhân vẫn chưa thấy ai đẹp cho vừa ḷng trẫm. Thật là thiên hạ thiếu giai nhân tuyệt sắc.

Lư Diên Niên có một em gái sắc đẹp tuyệt trần, thường ra vào hầu hạ B́nh Dương công chúa. Một hôm, nhân dịp múa hát chầu Vũ Đế, Lư Diên Niên hát:

Phương bắc có giai nhân

Tuyệt vời đứng riêng bực,

Một liếc, người nghiêng thành.

Hai liếc, người nghiêng nước.

Lẽ nào không biết được

Người đẹp thành nước nghiêng,

Người đẹp khó t́m gặp.

Nguyên văn:

Bắc phương hữu giai nhân

Tuyệt thế nhi độc lập.

Nhất cố khuynh nhân thành;

Tái cố khuynh nhân quốc

Khởi bất tri

Khuynh thành dữ khuynh quốc

Giai nhân nan tái đắc.

Nghe hát, Hán Vũ Đế thở dài, than:

- Thế gian lại có người đẹp đến thế chăng?

B́nh Dương công chúa nhân đứng hầu bên cạnh nhà vua liền tâu:

- Diên Niên có người em gái đẹp tuyệt trần, c̣n hơn người trong bài hát ấy nữa.

Nhà vua truyền đ̣i người đẹp vào cung, xem mặt. Quả là một bực giai nhân tuyệt sắc, lại giỏi nghề múa hát, làm cho nhà vua càng mê mẩn tâm thần, liền phong làm phu nhân. Từ ấy, nhà vua chỉ say sưa đắm đuối bên ḿnh nàng, không c̣n tha thiết đến một ai nữa. Năm sau, nàng hạ sinh được một con trai.

Một hôm, nàng lâm bịnh nặng, Hán Đế đến tận giường bịnh thăm hỏi. Nàng kéo chăn che kín mặt, tâu:

- Thiếp đau từ lâu, h́nh dung tiều tụy, không dám đem cái nhan sắc ủ dột tàn phai ra mắt đấng quân vương. Thiếp chỉ xin gởi lại nhà vua một đứa con bé nhỏ và mấy người anh em của thiếp.

Hán Đế ngậm ngùi bảo:

- Phu nhân bịnh nặng không thể qua khỏi được th́ hăy giở chăn cho ta nh́n mặt, há chẳng làm cho ta được thỏa ḷng sao?

Nàng vẫn che kín mặt, từ tạ:

- Theo lẽ quân thần, phu phụ, đàn bà mặt không sạch, không được ra mắt quân phụ. Vậy thiếp xin nhà vua tha thứ cho.

Nhà vua cố nài nỉ. Nàng vẫn thở dài úp mặt vào trong, không nói năng ǵ, vẫn giữ chặt lấy chăn.

Vũ Đế tức quá, đứng phắt dậy ra về.

Nhiều người sợ nhà vua giận, nên có ư trách nàng. Nàng trả lời:

- Đàn bà là kẻ chỉ hay lấy nhan sắc thờ chồng. Nhan sắc kém, t́nh duyên sẽ phai nhạt, và t́nh yêu sẽ kém. Nhà vua quyến luyến ta chỉ v́ nhan sắc xinh đẹp lúc mạnh. Nay ta đau, nhan sắc suy kém, so với thiên hạ ta là kẻ xấu xa. Nh́n mặt ta, nhà vua sẽ chán th́ khi nào c̣n tưởng nhớ đến ta mà ban ân huệ cho anh em ta nữa.

Sau đó nàng chết. Vua Vũ Đế chôn cất nàng rất hậu, lại truyền họa sĩ vẽ h́nh nàng treo ở cung Cam Tuyền, phong cho anh em nàng quan tước cao.

Ngày tháng qua nhưng h́nh bóng người đẹp vẫn lởn vởn trước mắt, và mối t́nh thương nhớ vẫn canh cánh bên ḷng... mà nhà vua không t́m thấy thú vui, người đẹp nào bằng người đă khuất.

Đời nhà Đường (618-907), vua Đường Minh Hoàng dắt Dương Quí Phi thưởng hoa mẫu đơn ở đ́nh Cẩm Hương, sai người vời Lư Bạch đến bắt dâng ngay ba bài "Thanh B́nh điệu". Lư c̣n say rượu nhưng cầm bút viết luôn ba bài. Bài thứ ba có câu:

Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan,

Thường đắc quân vương đới tiếu khan.

Nghĩa:

Danh hoa nghiêng nước sánh đôi vui,

Để xứng quân vương một nụ cười.

Chữ "khuynh quốc" để chỉ cái đẹp tuyệt với của Dương Quí Phi.

Trong "Đoạn trường tân thanh", thi hào Nguyễn Du tả sắc đẹp nàng Kiều cũng có câu:

Một hai nghiêng nước nghiêng thành,

Sắc đành đ̣i một, tài đành họa hai.



"Nghiêng nước, nghiêng thành" xuất sứ ở bài hát của Lư Diên Niên.
Reply With Quote
  #6  
Old 02-15-2008, 08:45 PM
ướt mi's Avatar
ướt mi ướt mi is offline
Nhỏ thấy ghét - #1 (top 30 posters)
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 12,823
Thanks: 6
Thanked 14 Times in 14 Posts
Default Re: Điển hay tích lạ

- Hà Đông sư tử


NTQ

Trần Tạo tự Quư Thường, người đời nhà Tống, quê ở Vĩnh Gia. Vợ của Trần họ Liễu vốn có tính ghen dữ ghê gớm. Quư Thường rất sợ vợ nhưng rất có ḷng tôn sùng đạo Phật. Hằng ngày ngồi đọc kinh, vợ lấy làm bực, la hét om ṣm, nhưng Trần vẫn điềm nhiên, không dám cự một tiếng.

Tính của Trần cũng hào hoa, bằng hữu nhiều, nên ở nhà thường có yến tiệc. Để tăng phần hứng thú, long trọng của buổi tiệc, Trần chiều khách, mời kỹ nữ xướng ca. Liễu Thị trong pḥng mượn điều này, điều nọ, quát tháo om ṣm. Trần có lúc hốt hoảng, cầm gậy nơi tay bỏ rơi mất gậy. Bạn thân của Trần là Tô Đông Pha, nhân đó làm một bài thơ đùa cợt:

Thùy tự Long Khâu cư sĩ hiền,

Đàm không thuyết pháp dạ bất miên.

Hốt văn Hà Đông sư tử hống,

Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên.



Tạm dịch:

Ai hiền bằng thầy đồ Long Khâu,

Đọc kinh thuyết pháp suốt đêm thâu,

Bỗng nghe sư tử Hà Đông rống,

Kinh hoàng bỏ gậy rớt nơi đâu.

"Hà Đông sư tử" chỉ người đàn bà ghen dữ tợn.

Tô Đông Pha dùng hai tiếng "Hà Đông" là mượn câu thơ của Đỗ Phủ: "Hà Đông nữ nhi thân tính Liễu" (cô gái Hà Đông người họ Liễu) v́ vợ của Quư Thường cũng họ Liễu. Và tiếng "Sư tử" do lời trong kinh Phật: sư tử là chúa loài thú, mỗi khi rống lên th́ các thú vật đều khiếp đảm để vừa chỉ tính ghen dữ của Liễu Thị, vừa chỉ Quư Thường là một tín đồ đạo Phật.

Tú Xương trong bài thơ vịnh cảnh lấy lẽ, có câu:

Hậu hạ đă cam phiền cát lũy,

Nhặt khoan c̣n ỏi tiếng Hà Đông.
Reply With Quote
  #7  
Old 02-15-2008, 08:46 PM
ướt mi's Avatar
ướt mi ướt mi is offline
Nhỏ thấy ghét - #1 (top 30 posters)
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 12,823
Thanks: 6
Thanked 14 Times in 14 Posts
Default Re: Điển hay tích lạ

ĐỘNG ĐÀO NGUYÊN

Đào Nguyên c̣n gọi là động Bích.
Đây là chỗ tiên ở.

NTQ

Tương truyền đời nhà Tấn (265-419), có người chài cá ở huyện Vũ Lăng, một hôm chèo thuyền đi ngược ven theo bờ suối. Càng đi xa chừng nào th́ thấy có nhiều hoa đào trôi theo ḍng nước đổ xuống. Đến một quăng, bỗng thấy trước mặt hiện ra một rừng đào. Hoa đào đỏ rực rỡ làm cho ngư phủ càng thấy say sưa thích thú. Định co người ở gần đấy nên bỏ thuyền, lên bờ. Vượt qua rừng đào, đến một ngọn núi. Dưới chân núi có một cửa hang nhỏ hẹp, vừa chui được một người. Bên trong thấp thoáng có ánh sáng.

Gợi tính ṭ ṃ, chàng lách ḿnh vào cửa hang. Lúc đầu, cửa hang c̣n hẹp, sau rộng dần, rồi cả một thế giới hiện ra: ruộng vườn tươi tốt, nhà cửa thôn ấp liên tiếp nhau; tiếng gà, tiếng chó nghe rơ mồn một; thanh niên thiếu nữ đều say sưa công việc đồng áng. Trên mặt mọi người hiện nét vui tươi chất phác hồn nhiên. Người già, con trẻ đều có vẻ ung dung thanh thản.

Những người ở đây thấy chàng ngư phủ th́ lấy làm kinh ngạc hỏi: làm sao đến được chốn này? Ngư phủ tŕnh bày sự thực. Các bực phụ lăo đem vợ con ra chào mừng khách lạ, dọn cơm rượu đăi khách. Ngư phủ ăn uống lấy làm ngon lạ, v́ tuy cơm rượu mà tính chất khác thường.

Những bực phụ lăo lại nói:

- Tổ tiên chúng tôi tránh loạn đời Tần, đem cả gia đ́nh vào ở đây, từ đó cách biệt với bên ngoài. Hiện nay, chúng tôi không c̣n biết nhà Hán, huống hồ là nhà Ngụy, và nhà Tấn.

Cuối cùng, họ lại dặn ngư phủ: sau khi ra khỏi chốn này, xin đừng cho ai biết có họ ở đây.

Người đánh cá ở chơi một hôm rồi xin cáo biệt.

Từ đời nhà Tần (221 trước D.L.) đến nhà Tấn (419 sau Dương lịch) mà họ đến đây tránh nạn kể ra có trên sáu trăm năm. Người đánh cá cho ḿnh may mắn đă được gặp tiên. Nên khi trở về, nhiều người đến thăm hỏi, trước c̣n t́m cách giấu nhưng cuối cùng chuyện thấu đến quan Thái Thú sở tại, ngư phủ đành phải thuật cả việc lại.

Có tính hiếu kỳ, viên Thái Thú sai người đi theo chàng ngư phủ t́m lại động Đào Nguyên, nhưng hai người bị lạc đường đành phải trở về.

Trong truyện "Hoa tiên" của Nguyễn Huy Tự có câu: "Nào hay là khách Đào Nguyên đă về".

Trong "Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du đoạn thuật lại lời Thúy Kiều nói với Kim Trọng trong khi nhà vắng, nàng lén sang chỗ ở của chàng, có câu: "Xắn tay mở khóa động Đào".

"Động Đào" là động Đào Nguyên, Kiều dùng lối thậm xưng, đề cao chỗ ở của t́nh nhân như một cơi tiên; và nàng cũng vinh hạnh được vào... cơi tiên ấy.

Trong "Tần cung nữ oán Bái Công văn" của Nguyễn Hữu Chỉnh (?) có câu: "Nếu tuổi xanh chẳng nhuốm bụi hồng, chiếc ngư phủ đă đưa vào động Bích".

"Động Đào", "Đào Nguyên", "động Bích" đều do điển tích trên.
Reply With Quote
  #8  
Old 02-15-2008, 08:47 PM
ướt mi's Avatar
ướt mi ướt mi is offline
Nhỏ thấy ghét - #1 (top 30 posters)
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 12,823
Thanks: 6
Thanked 14 Times in 14 Posts
Default Re: Điển hay tích lạ

Gương vỡ lại lành

NTQ

Trung Quốc, đời nhà Trần, người hầu cận Thái Tử là Từ Đức Ngôn có t́nh với Nhạc Xương công chúa.

Khi nhà Trần suy loạn, Từ bảo công chúa:

- Nước mất, nàng tất lọt vào nhà quyền quư. Nếu t́nh duyên chưa dứt th́ c̣n có ngày được gặp nhau.

Đoạn, bẻ tấm gương làm đôi, mỗi người giữ một mảnh hẹn nhau đến ngày thượng nguyên sẽ đem gương đến kinh đô bán để t́m nhau.

Bấy giờ, giặc đánh vào đế đô. Từ chạy thoát, c̣n công chúa bị tướng giặc là Việt Công bắt ép làm vợ. Đến ngày rằm tháng giêng, Từ đem mảnh gương ra chợ bán, thấy có người cùng bán một mảnh gương giống của ḿnh. Lấy hai mảnh gương ghép lại th́ liền nhau như một. Từ bèn gởi cho người bán gương, nhờ đem về cho chủ mảnh gương ấy và kèm theo một bài thơ:

Người đi gương cũng đi,

Gương về người chưa về.

Chị Hằng đâu chẳng thấy,

Chỉ thấy ánh trăng ḷe.

Nguyên văn:

Cảnh dữ nhơn câu khứ,

Cảnh quy nhơn vị quy

Vô phục Hằng Nga ảnh,

Không lưu minh nguyệt huy.

Nhạc Xương công chúa đọc thơ khóc rống lên. Việt Công hỏi, công chúa thuật lại cả. Việt công lấy làm cảm động, thương t́nh bèn cho cả hai người tái hợp.

Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du có câu:

Bây giờ gương vỡ lại lành,

Khuôn thiêng lừa lọc đă dành có nơi.
Reply With Quote
  #9  
Old 02-15-2008, 08:50 PM
ướt mi's Avatar
ướt mi ướt mi is offline
Nhỏ thấy ghét - #1 (top 30 posters)
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 12,823
Thanks: 6
Thanked 14 Times in 14 Posts
Default Re: Điển hay tích lạ

- Tác Giả : Nguyễn Tử Quang


- Để thiếp theo chồng mấy dặm khơi

Nàng tên là Mỵ Ê, người Chiêm Thành, không biết họ ǵ, vốn vương phi vua Chiêm Xạ Đẩu.

Triều vua Lư Thái Tông (1028-1054) nước Đại Việt, Xạ Đẩu không theo lệ cống, thất lễ phiên thần, vua tự đem binh Nam chinh.

Xạ Đẩu bày trận ở sông Bồ Chính nhưng bị quân nhà Lư đánh bại. Xạ Đẩu chết tại trận (*). Vua nhà Lư tiến vào thành Phật Thệ là quốc đô của Chiêm Thành bắt được vương phi Mỵ Ê cùng một số cung nhân, nhạc nữ, đem về nước.

Khi thuyền đến sông Lư Nhân, giữa đêm, vua nghe Mỵ Ê có sắc đẹp, bèn sai quan Trung Sứ với đến chầu thuyền ngự. Mỵ Ê không dấu được nỗi phẫn uất, từ chối rằng:

Vợ phường man rợ quê mùa, y phục xấu xí, ngôn ngữ thô lỗ, không giống các phi tần Trung Hoa. Nay nước tan, chồng mất, chỉ mong một chết là thỏa ḷng; nếu cưỡng bức hợp hoan, ngại nỗi làm dơ ḿnh rồng vậy.

Đoạn, nàng lén lấy chăn lông chiên quấn lấy kín thân ḿnh định phó tính mạng cho ḍng nước chảy. Thế là, đánh ầm một tiếng, mất tăm h́nh bóng người xinh.

Nhà vua kinh hoảng tự hối, muốn cứu nhưng không sao kịp nữa.

Tương truyền từ đó, nơi này mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, người ta thường nghe văng vẳng có tiếng phụ nữ khóc kể bi ai. Dân trong vùng cho việc kinh dị, xin lập đền thờ, bấy giờ mới dứt tiếng khóc.

Một hôm, có dịp, vua Lư Thái Tông đến sông Lư Nhân. Thuyền thả giữa ḍng, đến đấy, nhà vua thấy trên bờ có ngôi đền thờ, lấy làm lạ hỏị Hầu thần đem chuyện Mỵ Ê kể lại. Vua lặng yên hồi lâu, phán rằng:

- Không ngờ gái rợ lại có kẻ u trinh đến thế, quả là một gái phi thường. Thế nào cũng có sự báo thù.

Đêm ấy đă canh ba, chợt nghe một trận gió thơm thổi đến, khí lạnh tê người. Nhà vua chợt thấy một người đàn bà yểu điệu, dung nhan đẹp đẽ, uy nghi bước đến, cúi lạy vừa khóc rằng:

- Thiếp nghe đạo của kẻ phụ nhân là ṭng nhất nhi chung. Quốc vương trước của thiếp tuy chẳng dám so sánh cùng bệ hạ nhưng cũng là bực nam tử kỳ tài riêng cơi. Thiếp từng được lạm dự phần khăn lược, chẳng may gặp phải cảnh nước tan chồng mất, thiếp đêm ngày sầu thương, rầu rĩ, chỉ lo báo bổ. Nhưng quần thoa yếu ớt chẳng biết tính sao? May nhờ hồng ân của bệ hạ sai Trung Sứ tiễn thiếp xuống tuyền đài hội ngộ cùng chồng. Sở nguyện của thiếp thỏa rồi, thế c̣n có linh ǵ mà dám đến đây đường đột!...

Nói xong, không thấy đâu nữa.

Vua kinh hăi tỉnh giấc, mới hay là chiêm bao. Đoạn truyền đem lễ vật đến miếu cúng tạ, sắc phong làm Hiệp Chính Nương. Từ đó về sau, dân chúng xa gần cầu đảo đều thấy linh ứng.

Cảm nỗi chua xót của nàng Mỵ Ê phải tuẫn tiết trong cảnh nước mất nhà tan, thi sĩ Tản Đà có làm bài thơ từ khúc để tả nỗi ḷng của người vương phi bạc mạng:

Châu giang một giải sông dài,
Thuyền ai than thở, một người cung phi!
Đồ Bàn thành phá hủy,
Ngọa Phật tháp thiên di.
Thành tan, tháp đổ
Chàng tử biệt,
Thiếp sinh ly.
Sinh kư đau ḷng kẻ tử quy!
Sóng bạc ngàn trùng
Âm dương cách trở
Chiên hồng một tấm,
Phu thê xướng tùy.



Ôi mây! Ôi nước! Ôi trời!
Đũa ngọc, mâm vàng, giọt lụy rơi.
Nước sông trong đục,
Lệ thiếp đầy vơi
Bể bể, dâu dâu, khóc nỗi đời!
Trời ơi! Nước hỡi! Mây hời!
Nước chảy, mây bay, trời ở lại,
Để thiếp theo chồng mấy dặm khơi! ...
Reply With Quote
  #10  
Old 02-16-2008, 11:55 AM
Son Ha Son Ha is offline
Triết Lư An Vi (top posters)
 
Join Date: Feb 2008
Posts: 633
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Default Re: Điển hay tích lạ

Quote:
Originally Posted by ướt mi View Post
- Tác Giả : Nguyễn Tử Quang
- Duyên nợ ba sinh

"Ba sinh" do chữ "Tam sinh" nghĩa là ba kiếp luân chuyển: kiếp này sang kiếp khác. Duyên nợ ba sinh là duyên nợ từ ba kiếp với nhau. Ư nói duyên nợ phải làm vợ chồng với nhau do số kiếp tiền định.
"Ba Sinh" Không phải là nghĩa đó đâu ! Đó là nghĩa tầm bậy, cắt nghĩa theo tụi Tàu !

Cái ư nghĩa này là nói theo sách vở của Tàu và phiên dịch từ văn hóa Trung Hoa, mà như tôi đă cắt nghĩa trong các bài tôi viết, là nước Tàu chỉ có (lập nên) từ khoảng 800 năm trước TCN. C̣n Việt tộc ḿnh đă có khoảng ít nữa là 10 ngàn năm trước TCN. Nên Tàu đă xâm chiếm xuống phía Nam và đă đi ăn cắp văn hóa và chữ viết của ḿnh. Chữ Hán là từ chữ Nho mà ra, chữ viết của Tàu bây giờ là của ḿnh ngày xưa. Tàu không có văn hóa lẫn văn minh ! Văn minh bây giờ mà Tàu có được là nhờ ảnh hưởng của văn hóa Việt tộc ! Tàu chẳng có cái quái ǵ hết ! Toàn là đi ăn cắp, rồi bắt chước (copy) cho tới ngày nay, cũng c̣n cái tật đi ăn cắp, đi xâm chiếm... !


"Ba Sinh" đây là nghĩa của Tam Tài, tức là "Thiên Sinh - Địa Sinh - Nhân Sinh" hay theo triết lư An-Vi gọi là "Thiên Sinh - Địa Dưỡng - Nhân Ḥa", chớ làm ǵ có ba kiếp người. Ba cái chuyện hoang đường của Tàu là tào lao, v́ không có nền tảng và chẳng hiểu biết nên đi cắt nghĩa cách huyền bí để bà con tin, rồi đem nộp tiền nộp mạng cho cái đám "ma đầu giáo chủ" !


Quote:
Originally Posted by ướt mi View Post
- Tác Giả : Nguyễn Tử Quang
"Ba sinh" có nghĩa là số kiếp tiền định. "Nợ ba sinh" là nợ số kiếp tiền định, duyên số với nhau từ kiếp trước.
Cái nghĩa này c̣n tầm bậy dữ nữa, v́ là không hiểu Đạo với cái câu : "Thiên Mệnh chi vị Tính, Suất Tính chi vị Đạo, Tu Đạo chi vị Giáo" trong Kinh Lễ, ... nên đọc chuyện Tàu và coi phim bộ mà không chán, là ḿnh mất Đạo mất gốc, và đang bị lọt tṛng trong chiêu đồng hóa Việt Nam của Trung Cộng. Coi chừng mai mốt ăn toàn nước tương x́ dầu rồi bỏ nước mắm luôn, rồi kiêu tại hôi, tại thúi... mà quên mất là tại ḿnh không chịu học cái Triết cái Đạo của ḿnh ! Như đọc bài viết của tôi chẳng hạn th́ kêu dài quá..., mà trong khi đọc tiểu thuyết hay chuyện vô bổ th́ có mấy bộ cũng nuốt cái một. Bạn hảy nghĩ lại đi... có phải như vậy không?

Cho nên không có kiếp nào gọi là tiền định, duyên nào là duyên số hay duyên nợ hết ! Mọi duyên, số, kiếp... đều là Tự Ḿnh và Do Trời, cũng như Do Ḿnh và Tự Trời !

Nếu ḿnh không muốn... th́ Trời cũng thua thôi ! "Mưu sự tại nhân" kia mà ! Đừng có đổ thừa cho ông Trời nữa, tội nghiệp ông Trời lắm !
Reply With Quote
Reply

Thread Tools

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off

Forum Jump


All times are GMT -7. The time now is 02:05 PM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.7
Copyright ©2000 - 2017, vBulletin Solutions, Inc.
Người Việt Năm Châu