Welcome to Người Việt Năm Châu. Chúc tất cả Anh Chị Em một ngày b́nh yên, may mắn và hạnh phúc... XIN ĐỪNG QUÊN: Hơn 80 triệu đồng bào VN đang bị nhốt trong cái nhà tù lớn mệnh danh XHCNVN của lũ quốc tặc Việt cộng ...

Trang Chính Diễn Đàn About NVNC Một Góc Phố Một Góc Phố US MGP phpBB Lư Lạc Long
Pḥng Phát Thanh VietKey Online NVNC Làm Quen Cyber Cafe Văn Học Nghệ Thuật Xă Hội Tin Tức Thời Sự
Go Back   NGƯỜI VIỆT NĂM CHÂU > 4. XĂ HỘI - ĐỜI SỐNG - KHOA HỌC KỸ THUẬT > Góc Kinh Nghiệm Sống & Gỡ Rối > KNS & Danh Ngôn Ca Dao
FAQ Members List Calendar Mark Forums Read

KNS & Danh Ngôn Ca Dao Chia xẻ KNS và sưu tầm danh ngôn ca dao

Reply
 
Thread Tools
  #1  
Old 07-12-2009, 02:54 AM
Phonglinh's Avatar
Phonglinh Phonglinh is offline
Nhị Linh Tiểu Nha Đầu
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 1,176
Thanks: 0
Thanked 2 Times in 2 Posts
Default 40 Gương Thành Công

Gương 1:
Somerset Maugham


Theo bạn, kịch nào có giá trị nhất từ trước? Có lần, các nhà phê b́nh nổi danh về kịch đă bầu kín ở Nữu Ước để lựa lấy mười kịch có giá trị nhất th́ kịch Hamlet đứng đầu sổ. Kịch đó viết cách đây trên ba trăm năm. Rồi kịch thứ nh́ không phải là kịch Macbeth, hoặc kịch Vua Lear, kịch Nhà buôn ở Venice, mà là kịch Rain. Vâng, kịch Rain, một kịch phô bày chiến đấu dông tố giữa T́nh dục và Tôn giáo, một kịch soạn theo một truyện ngắn của Somerset Maugham.

Kịch Rain đă đem lại cho Maugham bốn chục ngàn Anh Kim, mà ông không mất chút công nào để soạn nó.

Việc xảy ra như vầy: Ông viết môt truyện ngắn nhan đề là Sadie Thomson. Viết xong, ông chẳng nhớ ǵ tới nó nữa. Nhưng một đêm John Colton lại chơi nhà ông và Colton muốn có cái ǵ đọc để dỗ giấc ngủ, Maugham bèn đưa cho Colton bản cảo truyện đó.

Colton say mê đọc, kích thích lạ lùng. Ông nhẩy xuống sàn đi đi lại lại, tưởng tượng ra như thấy truyện đă diễn thành kịch, một kịch sau này sẽ bất hủ. Sáng hôm sau, ông chạy t́m Somerset Maugham, bảo: "Truyện này viết thành một kịch hay được. Tôi đă nghĩ về nó suốt đêm hôm qua. Báo đời! Biểu cho người ta đọc cái ǵ để dễ ngủ, mà làm cho người ta không chợp mắt lấy được một phút!".

Nhưng Maugham vẫn thản nhiên đáp:

- Viết thành kịch ư? Một kịch bệnh hoạn th́ được. Rồi đem diễn được trong sáu tuần lễ. Không đáng để ư tới. Thôi đi.

Và chính kịch mà ông không thèm để ư tới đó đă đem lại cho ông bốn chục ngàn Anh Kim.

Kịch viết xong, nhiều gánh hát từ chối. Họ tin chắc rằng sẽ thất bại. Chỉ có Sam Harris chịu nhận. Ông sở dĩ nhận là có ư cho một đào trẻ tên là Jeanne Eagels đóng. Nhưng người quản lư gánh hát không chịu, muốn lựa một đào có danh hơn. Rốt cuộc, Jeanne Eagels cũng được đóng và nàng thành công. Kịch diễn bốn năm rưỡi một lần, lần nào cũng có nàng và lần nào rạp cũng đông nghẹt.

Somerset Maugham đă viết nhiều tiểu thuyết có danh như Of Human Bondage, The Moon and Six-pence và The Painted Veil, khoảng hai chục kịch hay. Nhưng chính kịch trứ danh nhất của ông th́, ông lại không viết. Bây giờ nhiều người coi ông là một thiên tài, nhưng hồi mới bắt đầu viết, ông thất bại luôn mười một năm. Nhà văn đă kiếm được hai trăm ngàn Anh kim đó, trong mười một năm ấy chỉ kiếm được mỗi một Anh kim. Nhiều lúc đói, ông muốn xin một chân trong ṭa soạn một nhà báo nào đó để có một số tiền nhất định mỗi tháng, nhưng không ai nhận ông cả. Ông bảo: "Kiếm không được việc tôi đành phải tiếp tục viết như vậy". Lúc đó ông đă đậu bằng cấp y khoa bác sĩ, họ thôi thúc ông bỏ truyện ngắn, truyện dài đi mà làm thuốc ra toa cho tấm thân đỡ cơ cực. Nhưng không có ǵ làm ông thay đổi quyết định sắt đá của ông là lưu danh lại trên những trang Văn học sử Anh. Bod Ripley, nổi danh về cuốn Believe it or not, có lần bảo tôi: "Một người có thể làm việc như mọi không ai biết đến, trong mười năm rồi nổi danh trong mười phút". Lời đúng với Ripley và cả với Maugham.

Lần đầu tiên Somerset Maugham được nổi danh là do một ngẫu nhiên. Một kịch nào đó thất bại và ông bầu một gánh hát kiếm một kịch bản khác để thay. Chủ ư ông chưa muốn kiếm một kịch được hoan nghênh, chỉ muốn kiếm một kịch cũ cũ nào đó diễn đỡ, đợi ngày gặp được một kịch có giá trị. Vậy ông t́m bậy trong tủ của ông, xem ra may được một kịch nào chăng, và rút ra một kịch của Somerset Maugham, nhan đề là Lady Frederick. Kịch đó ông nhét vào tủ đă mấy năm rồi, nhớ đă đọc qua, và biết là chẳng hay ho ǵ, nhưng diễn tạm được ít tuần. Ông bèn cho diễn. Và phép mầu đă hiện ra. Kịch Lady Frederick thành công rực rỡ. Khắp thành phố London, ai cũng nói tới. Từ hồi Oscar Wilde tới nay, chưa có kịch gia nào làm cho người Anh vui thích như vậy.

Tức th́ hết thẩy các ông bầu hát ở Luân Đôn tranh nhau xin kịch của Somerset Maugham. Ông lục lọi các vở kịch cũ trong tủ ra, và chỉ trong vài tuần, ba kịch của ông được đem diễn trong những rạp lớn.

Tiền tác giả chảy vô như suối. Các nhà xuất bản lăn xả vô xin kư giao kèo với vị thiên tài mới xuất hiện đó. Giấy mời của các hội bay tới như mưa, và sau mười năm sống trong bóng tối, Somerset Maugham bỗng được hoan nghênh trong các pḥng khách sang trọng nhất.

Ông nói với tôi rằng không khi nào ông làm việc quá một giờ trưa, v́ buổi chiều, óc ông như đặc lại. Ông viết dưới một mái hiên trên từng thượng biệt thự của ông ở Nice. Luôn luôn ông hút ống điếu và đọc sách triết lư khoảng một giờ rồi mới bắt đầu viết. Khi quân Đức chiếm nước Pháp, ông qua Nam Caroline và viết trong một đồn điền.
__________________
PHONG LINH
Reply With Quote
  #2  
Old 07-12-2009, 03:04 AM
Phonglinh's Avatar
Phonglinh Phonglinh is offline
Nhị Linh Tiểu Nha Đầu
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 1,176
Thanks: 0
Thanked 2 Times in 2 Posts
Default Re: 40 Gương Thành Công

Gương 2:
Glenn L. Martin


Đêm rằm tháng giêng năm 1886, bà Minta Martin ở Macksbung nằm mộng thấy ngồi trên một cái máy, bay trên không trung, lượn trên nơi bà ở, đưa tay ra vẫy vẫy bạn bè đứng dưới đường và buồn rầu v́ họ không thể bay như ḿnh được. Gặp lúc khác th́ chắc bà không để ư ǵ tới giấc mộng đó cả, nhưng hồi ấy bà đương có mang và đă được nghe nhiều người đoán điềm giải mộng nên bốn mươi tám giờ sau, khi sanh con trai là Glenn Martin th́ bà tin rằng con bà sau này sẽ bay được trong không trung như bà.

Việc đó xảy ra mười bảy năm trước khi hai anh em Wright bay thử lần đầu. Điều lạ lùng nhất trong truyện đó là con bà sau tập bay thật, sau hai anh em Wright một chút và là người thứ ba ở Châu Mỹ lái một máy bay tự ḿnh sáng chế ra.

Bây giờ Martin là người đứng đầu trong kỹ nghệ hàng không mà ông đă làm cho phát triển một cách phi thường. Xưởng chế tạo của ông, tức công ty Glenn L. Martin, ở gần Baltimore xứ Maryland, là một trong ba xưởng chế tạo phi cơ lớn nhất thế giới. Ông đă đóng những chiếc Marauder cho lục quân, Mariner cho hải quân và Baltimore cho nước Anh. Ông là nhà chế tạo phi cơ danh tiếng nhất thế giới. Mà nếu thân mẫu ông không nằm mộng thấy ḿnh bay lên trên không trung th́ có lẽ ông đă không lựa nghề đó.

Bạn hỏi tôi:

- Tại sao vậy?

Là v́ suốt thời thơ ấu của ông, bà cụ thường kể cho ông nghe giấc mộng ấy, gây cho ông một mục đích, một niềm tin, một tham vọng: Chinh phục được thế giới của băo tố mà ở trên những cánh đồng cỏ miền Kansas, nơi tuổi thơ ông trôi qua, luôn luôn có những trận băo tố dữ dội cần phải chế ngự.

Trong một cuộc phỏng vấn, ông kể rằng những trận gió ở Kansas đă đóng một vai tṛ chủ yếu trong thời thiếu niên của ông. Hồi sáu tuổi, ông lấy một chiếc mền cột vào chiếc xe nhỏ sơn đỏ, rồi cho gió thổi xe chạy trên đường phố như thuyền buồm chạy trên sông. Sau ông đi giày đạp tuyết, tay cầm một chiếc buồm tự ông cắt lấy rồi để gió đẩy chạy trên băng. Ông cũng dùng cách đó để khỏi phải đạp xe máy. Ông bảo rằng thời đó hễ gặp một khu rộng nào có thể dùng buồm để di chuyển được là ông mê mẩn, như bị thôi miên.

Cái thời xa xăm ấy, thời bà cụ Martin c̣n ở Kansas th́ cụ chưa hề được nghe chữ tâm lư nhưng cụ đă dùng một phương pháp tâm lư mà các tâm lư gia ngày nay chắc chắn đều công nhận là hiệu quả, để nung ḷng can đảm và đức tự tin của con trai. Khi con khôn lớn, làm được một việc ǵ th́ cụ để cho cậu tự lănh lấy mọi trách nhiệm. Một lần cậu muốn có một đôi giày trượt tuyết mà không có tiền mua, cụ bảo cậu lại tiệm thợ rèn mà mượn đồ, xin sắt, tự rèn lấy một đôi, cậu vâng lời làm liền. Muốn có một chiếc diều, cậu cũng phải làm lấy. Và đọc một tạp chí, cậu đă nảy ra ư chế ra một kiểu diều rất mới có hai tầng cánh. Cậu ráp nó trong nhà bếp và khi thấy nó bay thẳng hơn, cao hơn tất cả những diều khác ở Kansas, cậu thích thú, hăng hái vô cùng. Cậu hănh diện về sự thành công đó đến nỗi tự tổ chức cuộc thi diều và cậu thắng. Thế là các trẻ em trong thành đều năn nỉ cậu làm cho một chiếc diều như của cậu.

Cậu bé Glenn Luther Martin - mà năm chục năm sau chế tạo được chiếc phi cơ lớn nhất thế giới, chiếc Mars. Hồi đó lập một xưởng làm diều trong nhà bếp của bà cụ. Mỗi đêm cậu làm được ba chiếc diều và bán hai cắc rưỡi một chiếc: Trả mặt một cắc rưỡi cho trả góp làm ba tuần, mỗi tuần năm xu. Ḷng tự tin của cậu c̣n tăng lên nữa khi cậu thấy ḿnh có khiếu về máy móc và có thể làm được nhiều đồ mà các trẻ khác làm không được. Ba chục năm sau, khi ông đă chế tạo những phi cơ đánh ch́m được nhiều chiến hạm, một kư giả ở Cleveland lại phỏng vấn ông về những bước đầu trong nghề, ông đáp:

- Mẹ tôi đă ảnh hưởng nhiều đến tôi. Người đă khuyến khích tôi làm diều trong nhà bếp. Người đă tập cho tôi đức tự tin.

Khi những chiếc xe hơi đầu tiên xuất hiện ở Kansas, Martin chỉ ước ao mỗi một điều là được lái loại xe kỳ dị chạy không cần ngựa đó. Ông xin được vào làm trong một hăng sửa xe. Sau này, khi gia đ́nh ông dời qua Santa Ana ở California, ông mở một hăng sửa xe, xin được làm đại lư các hăng xe Ford và Maxwell. Hồi đó, ông hai chục tuổi, làm nghề bán và sửa xe ấy mà kiếm được từ ba đến bốn ngàn Mỹ kim mỗi năm.

Rồi một việc xảy ra làm cho cuộc đời ông thay đổi hẳn.

Một buổi sáng năm 1905, một tin trong báo làm ông sửng sốt rồi như bị thôi miên: Hai anh em Wright ở Kitti Hawk, miền Bắc Caroline, đă bay được trong một trăm giây. Tin đó kích thích ông vô cùng, ông nhận ra rằng thứ máy bay đó đương rầm rộ mở một kỷ nguyên mới.

Vậy ra hai anh em Wright đă bay được trong một trăm giây. Ông lấy đồng hồ ra, đếm một trăm giây, rồi tự nhủ: "Có người bay được một trăm giây th́ sau này sẽ có người chế tạo được những máy bay, bay được một giờ, có lẽ năm giờ.... biết đâu chừng?"

Vài tháng sau ông lại bị kích thích một lần nữa: Một tạp chí kỹ thuật in h́nh phi cơ của hai anh em Wright. Nghiên cứu tỉ mỉ h́nh đó xong, ông thưa với bà cụ:

- Xét cho kỹ th́ chẳng qua máy bay chỉ là một chiếc diều lớn có động cơ. Con làm diều được, th́ cũng chế tạo một chiếc máy bay như vậy được, để con làm rồi lắp ráp cho má xem.

Bà cụ nhớ lại giấc mộng hồi xưa, đáp:

- Con có lư, con có lư, con tất làm được.

Hồi đó ông hai mươi tuổi, ham bay tới nỗi muốn bỏ hết thời giờ vào việc chế tạo máy bay. Nhưng không được như sở nguyện v́ c̣n phải kiếm ăn nữa, cho nên ban ngày đành trông nom hăng xe hơi, c̣n ban đêm th́ tha hồ muốn làm ǵ th́ làm. Mới đầu ông đóng một kiểu diều lớn chở nổi một người, không có động cơ, rồi ông tập bay thử. Sau nhiều tháng tập bay như vậy, ông nóng ḷng muốn chế tạo một phi cơ thực, có động cơ đàng hoàng. Nhưng phải làm ra sao bây giờ? Ông mù tịt hay gần như mù tịt về khoa khí động học, và chưa được học tập về kỹ thuật bao giờ.

Mặc dầu vậy ông cũng cố đóng một chiếc máy bay, không có bản đồ vẽ trước, mà cũng chẳng được ai giúp đỡ, chỉ bảo. Ông hăng hái lắm, lại một thư viện công cộng, đọc sách về kỹ thuật xây cầu v́ ông nghĩ rằng biết cách xây cầu th́ sẽ t́m được cách đóng một chiếc phi cơ nhẹ chở được một người và một động cơ.

Năm 1908 ông chế tạo xong chiếc phi cơ thứ nhất trong một nhà thờ bỏ hoang ở Santa Ana, xứ Californie mà ông phải mướn mỗi tháng mười hai Mỹ kim. Thân phụ ông mắc cỡ v́ có đứa con điên điên khùng khùng bán xe hơi kiếm được rất nhiều tiền th́ không chịu lại bỏ phí th́ giờ chế tạo những máy để bay. Thanh niên trong tỉnh thấy ông bỏ ăn, bỏ ngủ, không biết là ngày lễ, ngày nghỉ là ǵ, cặm cụi hết tháng hết năm, cũng chế giễu ông nữa. Một bà già nọ lại thuyết thân mẫu ông để cụ bảo ông bỏ cái ư của ma quỷ đó đi.

- Nếu thượng đế muốn cho loài người bay được th́ đă cho chúng ta cặp cánh rồi, phải không cụ?

Chỉ mỗi có một người khuyến khích ông là thân mẫu ông. Cụ nhớ lại giấc mộng của cụ. Cụ tin chắc con cụ sẽ bay được. Mỗi đêm cụ cặm cụi với con trong ngôi nhà thờ hoang, cầm chiếc đèn dầu chiếu sáng cho con làm. Kẻ ṭ ṃ ngó qua cửa sổ xem thằng khùng đó làm cái tṛ ǵ. Ông bực ḿnh sơn các cửa kính không cho ai nh́n được nữa. Rồi ông khóa cửa lại. Nhưng họ vẫn tới để cười, chế nhạo ông. Ông lại phải mướn người coi cửa để ngăn họ đừng tới gần.

Luôn mười ba tháng như vậy, hai mẹ con ông làm việc đêm này qua đêm khác, cả trong đêm lễ Giáng Sinh, cả trong đêm Nguyên Đán. Công việc đó không phải là một công việc thường: Nó là một sự đam mê. Không phải là chuyện đóng một phi cơ mà là chuyện chinh phục thế giới của gió băo, cho một giấc mộng thành sự thật. Chắc chắn hồi ấy ông sống vui thích hơn một ông vua hoặc một nhà triệu phú rất nhiều. Có lần ông bảo rằng mười ba tháng đó là quăng đời đẹp nhất của ông.

Ông lắp một động cơ hai mă lực vào phi cơ của ông. Muốn cho nhẹ, ông thay cái vỏ gang bằng một cái vỏ đồng. Ông phải đẽo sáu chiếc chong chóng mới được một cái vừa ư.

Sau cùng phi cơ đóng xong. Phải phá một vài mảng tường của nhà thờ rồi ngày cuối tháng bảy năm 1909, vào nửa đêm, Glenn Martin và hai người phụ tá, đẩy máy bay ra ngoài, cho ngựa kéo nó lên đường cái hơn năm cây số nữa, tới một cánh đồng để sáng sớm hôm sau bay thử. Sở dĩ phải kéo ban đêm như vậy là để cho ngựa không thấy h́nh thù kỳ dị của nó mà hoảng hốt.

Tinh sương ngày mùng một tháng tám năm 1909, Glenn Martin leo lên phi cơ, mở máy, động cơ nổ vang trời. Ông lên số, máy ông rung chuyển mạnh, đâm xiên đâm xẹo, rồi th́, ôi phép mầu! Nó cất cánh được. Em nhỏ Glenn Martin xưa làm diều trong nhà bếp ở Kansas nay đă bay được. Phút đó là phút quan trọng nhất đời ông. Sau ông đóng những chiếc China Clipper, tức những phi cơ đầu tiên đă vượt Thái B́nh Dương và đóng rất nhiều phi cơ chiến đấu.

Đời ông là một tấm gương sáng cho ta thấy năng lực phi thường của một ư chí chuyên chú vào một mục đích độc nhất. Ông nói:

- Nếu ông lựa một con đường và không khi nào quên mục đích của ông th́ dù con đường khó khăn, lởm chởm đến đâu, rốt cuộc thế nào ông cũng tới được một nơi nào đó.
__________________
PHONG LINH
Reply With Quote
  #3  
Old 07-12-2009, 03:15 AM
Phonglinh's Avatar
Phonglinh Phonglinh is offline
Nhị Linh Tiểu Nha Đầu
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 1,176
Thanks: 0
Thanked 2 Times in 2 Posts
Default Re: 40 Gương Thành Công

Gương 3:
S. Parkes Cadman


S Parkes Cadman ở Brooklyn là một trong những người nổi danh nhất ở Mỹ. Ông giảng đạo trong nhiều năm và là một người tiên phong về phát thanh. Nếu bạn cho rằng bạn làm không kịp thở th́ xin bạn nghe những công việc thường ngày của ông.

Bảy giờ sáng ông dậy, trả lời hai chục hoặc ba chục bức thư, viết một ngàn rưỡi chữ cho tờ báo của ông, soạn một bài thuyết giáo, hoặc viết tiếp một cuốn sách, đi thăm năm hay sáu tín đồ, trở về nhà, đọc trọn một cuốn sách mới xuất bản, vậy là xong việc trong ngày đó và đi ngủ vào khoảng hai giờ sáng. Theo chương tŕnh đó trong bốn mươi tám giờ th́ sẽ tối tăm mặt mũi lại, vậy mà ông giữ đúng được hàng tháng, hàng năm! Bạn thử tưởng tượng xem! Có lần hỏi ông làm cách nào. Ông đáp là dễ lắm, chỉ việc dự tính trước công việc.

Ông bảo không đọc thư cho thư kư đánh máy mà đọc trước một máy ghi âm, như vậy mỗi ngày tiết kiệm được một giờ. Ông lại nói chính Gladstone đă cho ông một bài học quư giá về cách làm việc. Khi điều khiển chính sự nước Anh, Gladstone kê bốn cái bàn trong pḥng làm việc: Một bàn cho các công việc văn học, một bàn cho thư từ, một bàn cho các việc chính trị và một bàn cho những việc nghiên cứu riêng. Gladstone nghĩ rằng thay đổi công việc th́ làm việc được nhiều hơn, nên làm ở bàn này một lúc rồi qua bàn khác. Ông Cadman cũng theo đúng vậy, thay đổi công việc luôn và theo ông th́ nhờ vậy óc ông được minh mẫn. Ông thay đổi cả sách đọc. Nếu bạn tưởng rằng học giả Cadman chỉ đọc những sách về thần học, th́ bạn lầm lớn. Ông cho rằng phải đổi sách đọc cũng như đổi món ăn. V́ vậy mỗi tuần ông đọc hai ba cuốn tiểu thuyết trinh thám. Ông thích Sherlock Holmes và cho truyện The hound of the Baskervilles là truyện trinh thám hay nhất từ trước tới nay.

Một người bạn ông kể: "Ngày tôi lại thăm ông, tôi thấy bốn cuốn sách trên bàn. Một cuốn giảng cách lựa thức ăn hàng ngày của bác sĩ Hay; một cuốn nhan đề là The Romance of Labrador (loại tiểu thuyết phiêu lưu), một cuốn hồi kư về triều đ́nh vua Louis XIV, và một truyện trinh thám mới xuất bản. Theo tôi cái điều lạ lùng nhất trong con người lạ lùng đó là ông làm phu trong mỏ than ở quê ông, ông mới mười một tuổi, và trong mười năm đằng đẳng ông tiếp tục làm dưới mỏ tám giờ mỗi ngày để nuôi một bầy em dại. Bấy giờ ai mà chẳng nghĩ rằng ông không làm sao thành người có học được. Vậy mà sau này ông thành một người học rộng nhất châu Mỹ. Ông bảo tôi rằng bất kỳ về ngành nào trong văn học Anh, ông cũng biết được kha khá. Hồi ông làm mỏ, luôn luôn phải đợi một hoặc hai phút để người ta trút hết than trong xe ông đẩy, trong lúc đợi, ông rút trong túi ra một cuốn sách. Bạn biết rằng trong mỏ than tối tăm đến nỗi đưa bàn tay ra cũng khó thấy được, vậy mà ông ránh đọc sách nhờ ánh sáng mù mù của chiếc đèn cũ. Bạn lại nhớ mỗi lần ông được nhiều lắm là được một trăm hai mươi giây song ông vẫn mang sách theo. Ông bảo rằng thà không đem cơm theo chứ không chịu không đem sách theo. V́ ông biết chỉ có mỗi một cách thoát được cảnh ngục trong mỏ là đọc sách. Cho nên trong mười năm làm phu mỏ, mượn hay xin được cuốn sách nào trong làng bên cạnh là ông cũng đọc, trước sau hơn một ngàn cuốn. Vậy th́ sau ông thành công, có ǵ lạ đâu. Một người như ông th́ không có sức ǵ làm cho phải ngừng bước mà không tiến nữa. Mười năm sau sức học của ông đă kha khá, ông thi đậu một cách vẻ vang và được học bổng vào trường đại học Richmond."

Mỗi chủ nhật ông giảng đạo cho trên năm triệu tín đồ. Ông là một nhà thuyết giáo nổi danh nhất. Khắp thế giới đều được nghe giọng ông. Một lần đề đốc Byrd đánh vô tuyến điện tín từ Litte American cho ông để tỏ nỗi vui của bọn thám hiểm khi bắt được tiếng ông ở một nơi chân trời, gần Nam Cực. Vậy mà khi Cadman mới tới châu Mỹ, ông chỉ xin được việc thuyết giáo trong một nhà thờ, cho một trăm rưỡi tín đồ ở Millbrook, tiểu bang Nữu Ước. Họ định trả ông mỗi năm một trăm hai mươi Anh kim, nhưng không đủ tiền, đành trả ông bằng heo, gà, trái bom, khoai tây. Có người tặng ông một đống rơm.
__________________
PHONG LINH
Reply With Quote
  #4  
Old 07-15-2009, 08:25 AM
Phonglinh's Avatar
Phonglinh Phonglinh is offline
Nhị Linh Tiểu Nha Đầu
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 1,176
Thanks: 0
Thanked 2 Times in 2 Posts
Default Re: 40 Gương Thành Công

Gương 4
Đại Tướng Montgomery


902 cuộc chiến tranh đă xảy ra trong hai ngàn rưỡi năm nay - Đại tướng Anh Bernard Montgomery đă lập được một kỷ lục mới trong nghệ thuật cầm quân: Trong mười lăm tuần lễ, ông và đội quân thứ tám của ông, tức "Đội quân sông Nile" đă đánh đuổi đại tướng Rommel và đội quân Phi Châu chạy dài khoảng ba ngàn cây số ra khỏi sa mạc Phi châu.

Trước khi ra quân, đại tướng Montgomery bảo binh sĩ rằng họ sắp chiến đấu một trận quyết liệt trong lịch sử, một trận có lẽ đổi hướng cho đại chiến thứ nh́. Mà đúng vậy. Nếu đại tướng đại bại ở El Alamein th́ quân Đức đă chiếm được Ai Cập, kinh Suez và có lẽ cả những mỏ dầu ở Iran và Iraq. Rồi họ có thể băng qua Ấn Độ bắt tay quân Nhật và cắt đứt những đường tiếp tế từ Nga và Trung Hoa. Vậy mà thiếu chút nữa đại tướng đă không được cơ hội cầm quân ở El Alamein. Nguyên do là trong đại chiến thứ nhất, tại trận Meteron ông bị thương nặng ở phổi đến nỗi người ta tưởng ông đă chết và đem đi chôn. Thân mẫu ông kể lại chuyện đó như sau: "Bernard ngă gục và người lính chạy giấy của nó bị bắn trúng tim, chết đè lên nó. Nó bất tỉnh và được chở tới pḥng cấp cứu. Bác sĩ bảo:"Người này chỉ sống được nửa giờ nữa thôi". Viên đại tá liền cho lệnh đào huyệt. Người ta đem xe cam nhông chở Bernard đi. Trên đường tới huyệt, người cầm lái thấy nó cựa cậy nhè nhẹ, bèn bảo bác sĩ: "Cái thây này chưa chết". Vâng, nhờ trời, thây đó c̣n sống thật, và thây đó sau này thành một đại tướng nổi danh nhất của Anh trong đại chiến thứ nh́.

Bernard Law Montgomery đă suưt thành một nhà thuyết giáo, chứ không phải là một đại tướng. Thân phụ ông là giáo sĩ H.H. Montgomery, giám mục ở Tasmania và Bernard Montgomery muốn theo gót cha. Nhưng năm 1899, ông mười hai tuổi, một hôm đứng trên lề đường London, nh́n đoàn quân diễn qua để sang Châu Phi đánh giặc Boer, nghe tiếng kèn, tiếng trống hùng dũng, thấy đám đông hoan hô, ông nhớ lại những chuyện phiêu lưu mà thân mẫu đă kể cho ông nghe hồi nhỏ rồi cuộc đời anh dũng của ông nội ông, Robert Montgomery, một vị trung tướng nổi danh trong những trận Ấn Độ. Thế là từ đó trong ḷng em nhỏ mười hai tuổi ấy, dào dạt ư muốn làm một nhà cầm quân đại tài chứ không chịu làm một nhà thuyết giáo. Em cũng muốn được diễn qua thành phố London trong đám cờ bay phất phới và dân chúng hoan hô. Thân mẫu ông kể chuyện những danh nhân Anh như Cromvell, Clive, Drake và Nelson để tiêm cho ông tinh thần mạo hiểm.

Ông được sinh trưởng trong một nhà đầy những sách bất hủ và được hấp thụ những tư tưởng cùng lư tưởng thanh cao. Một hôm thân phụ ông gọi bốn người con vào pḥng sách và bảo họ rằng họ đủ trí khôn để tự lựa chọn lấy con đường đi trong đời rồi, cụ không phải dắt dẫn nữa; nhưng lựa đường nào th́ lựa, họ cũng không quên được mục đích giúp nước. Và muốn dự bị để giúp nước, Bernard Montgomery vào trường vơ bị Sandhurst. Trong bốn chục năm ông là một quân nhân chuyên nghiệp. Phần nhiều những thắng lợi của ông trong việc cầm quân là nhờ ông có tài lănh đạo người. Ông tuyên bố rằng điều kiện quan trọng nhất để thắng trận là ḷng người: "Không phải là xe tăng, hoặc chiến xa, chiến hạm mà thắng trận được đâu. Thắng được là nhờ con người trong những xe, những tàu đó". Ông lại nói "Bất kỳ người nào trong quân đội cũng phải có chí quyết chiến hiện ra ở tia sáng con mắt". Ông bảo đội quân thứ tám của ông rằng họ là những lính thiện xạ nhất hoàn cầu, đă đầy danh vọng, chưa hề thua trận nào và không có sức ǵ ngăn cản bước tiến của họ được. Ông lại tâm sự với họ, cho họ biết họ sắp phải làm những việc ǵ. Ông cho họ những mục tiêu rơ rệt để nhắm. Ông nói để họ vững ḷng v́ rằng chỉ khi nào ông có đủ khí giới, có đủ không lực để thắng th́ ông mới đưa họ ra trận.

Ông cho biết hai quy tắc của ông:

Quy tắc thứ nhất: đừng bao giờ để quân địch ồ ạt tấn công ḿnh đến nỗi ḿnh rối hàng ngũ.

Quy tắc thứ nh́: Không chắc chắn là thắng trận th́ đừng bao giờ ra quân. Trong một thông điệp gửi cho quân đội, ông viết:"Nếu tôi không chắc thắng th́ không khi nào tôi chiến đấu. Nếu tôi c̣n phải lo lắng ngại ngùng th́ tôi chưa đánh vội, mà chờ cho tới khi mọi sự sẵn sàng".

(...) Kỷ luật của ông rất nghiêm. Một lần, trong một hội nghị quân sự, ông bảo: "Tôi không muốn các ông hút thuốc hoặc ho. Vậy các ông không được hút thuốc ở đây. Ngay bây giờ các ông có thể ho trong hai phút, rồi th́ ngừng ho trong hai mươi phút cho tới khi tôi lại để các ông ho trong sáu mươi giây nữa".

Đối với kẻ địch, ông không có tính ghét cá nhân. Ông thường treo h́nh Rommel trên đầu gường ông và nói rằng muốn được gặp Rommel trước khi chiến đấu. Tại sao? Tại ông nghĩ nếu được nói chuyện với một người ḿnh sắp tấn công, th́ dễ đoán được người đó sẽ dùng chiến thuật nào. Khi bắt sống được tướng Von Thoma, cánh tay mặt của Rommel, ông mời Von Thoma dùng cơm tối với ông. Ông vẽ phác chiến trường trên khăn phủ bàn và chỉ cho Von Thoma thấy tại sao Rommel không thể thắng được. Khi ông chỉ huy quân đội thứ mười hai, trên tường pḥng giấy của ông có treo một dấu hiệu ư nghĩa là: "Đă sẵn sàng trăm phần trăm chưa? Khí lực có sung không? Sáng dậy có ca hát vui vẻ không?"

Sự thật th́ đại tướng Montgomery không bao giờ thức dậy mà ca hát vui vẻ, hoặc nói năng một tiếng ǵ hết. Người ta đánh thức ông 6 giờ sáng và một giờ sau ông mới bước ra khỏi giường. Buổi sáng ông uống một ly cà phê rồi nằm thêm một giờ nữa để suy nghĩ, tính toán. Những chi tiết lặt vặt, ông để người khác giải quyết, ông tổ chức công việc hàng ngày để không lúc nào phải vội vàng. Ngày mai ra quân th́ hôm nay ông vẫn ung dung. Kế hoạch tấn công đă định trước rồi. Ông bảo có thể thắng trận và phải thắng trận từ khi tiếng súng đầu tiên nổ, thắng bằng cách tính kỹ kế hoạch từ trước.

Khi trận đă bắt đầu khai diễn th́ ông nghỉ ngơi. Ông lên giường nghỉ một giờ trước khi pháo binh của ông tấn công Rommel ở El Alamein. Bốn tiếng rưỡi sau, vị phó quan của ông đánh thức ông để phúc tŕnh t́nh h́nh mặt trận. Ông nghe, ra lệnh xong rồi tắt đèn ngủ tiếp. Sở dĩ ông tự tin ghê gớm như vậy là nhờ ông đă tính toán kỹ lưỡng, nắm được ưu thế trên không và sĩ tốt của ông thiện chiến mà khí giới th́ đầy đủ. Đại tướng lấy lời huấn hỗ dưới đây của thân phụ ông làm phương châm: "Con sinh trong một vọng tộc. Vọng tộc không phải chỉ có nghĩa là bề ngoài sang trọng mà c̣n có nghĩa là tâm hồn thanh cao, nhă nhặn. Phải ghét những cái ǵ nhục nhă, ti tiện và dơ bẩn".
__________________
PHONG LINH
Reply With Quote
  #5  
Old 07-15-2009, 08:40 AM
Phonglinh's Avatar
Phonglinh Phonglinh is offline
Nhị Linh Tiểu Nha Đầu
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 1,176
Thanks: 0
Thanked 2 Times in 2 Posts
Default Re: 40 Gương Thành Công

Gương 5
John D. Rockefeller


John D. Rockefeller đă làm được ba việc hơi khác thường trong đời ông.

Việc thứ nhất là đă gây được một gia tài có lẽ lớn nhất trong lịch sử. Khi ông bước vào đời, ông phải đi đào khoai tây dưới ánh nắng gay gắt để kiếm được mỗi giờ bố xu. Hồi mà khắp Hoa Kỳ không có tới sáu nhà triệu phú th́ John Rokefeller đă gây nổi một gia tài khoảng một hai tỷ Mỹ kim.

Việc thứ nh́ là John D. Rockefeller giúp cho nhiều cơ quan một số tiền lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Ông đă giúp sáu triệu Mỹ kim, tính ra từ khi đức Chúa Ki Tô ra đời đến nay, cứ mỗi phút ông phân phát sáu cắc rưỡi, hoặc từ khi Moise dắt dân Israel qua Hồng Hải đến nay luôn ba ngàn năm, cứ mỗi ngày ông phân phát sáu trăm Mỹ kim.

Vậy mà thiếu nữ ông mê lần đầu tiên lại chê ông. Tại sao? Tại bà mẹ cô ta bảo không khi nào chịu gả con cho một anh chàng không có tương lai.

Việc thứ ba cũng hơi đặc biệt nữa là ông sống chín mươi bảy tuổi. Ông là một trong những người bị tất cả Châu Mỹ ghét nhất. Ông nhận được hàng ngàn bức thư đe dọa ông. Suốt ngày đêm phải có cận vệ, khí giới đầy đủ. Công việc quản lư và điều khiển vô số xí nghiệp làm thần kinh và cơ thể ông căng thẳng ghê gớm mà ông vẫn chịu nổi.

Harriman, nhà chuyên môn xây đường xe lửa, làm việc mệt quá, chết hồi sáu mươi mốt tuổi.

Woolworth, người sáng lập những tiệm bán hàng giá độc nhất ở khắp nước, chết hồi sáu mươi tám tuổi.

John D. Rockefeller gây được một gia tài gấp mấy lần gia tài của Harriman, Woolworth, Duke hợp lại. Mà nên nhớ rằng một triệu người chỉ có ba người thọ được chín mươi bảy tuổi và trăm triệu người không chắc có được một người sống tới tuổi đó mà không phải dùng răng giả: John Rockefeller tới chín mươi bảy tuổi vẫn c̣n đủ răng!

Bí quyết sống lâu của ông ở đâu? Chắc chắn là do di truyền, nhưng cũng nhờ bản tính ông điềm tỉnh nữa. Không bao giờ người ta thấy ông nóng nảy, cũng không bao giờ ông vội vàng. Khi ông làm Giám Đốc công ty Standard Oil, ông kê một chiếc đi-văng trong pḥng giấy ở Broadway và muốn ǵ th́ ǵ, mỗi bữa trưa ông cũng đánh một giấc nửa giờ. Ông giữ thói quen mỗi ngày ngủ năm giấc ngắn cho tới khi mất. Hồi năm hai mươi lăm tuổi ông mới đau lần đầu. Thật là một tin mừng và rất quan trọng đối với y học v́ khi khỏi bệnh, ông tặng cả triệu Mỹ kim vào công việc nghiên cứu y học. Nhờ vậy mà ngày nay Viện Rockefeller mỗi tháng tiêu được khoảng một triệu Mỹ kim vào chiến dịch diệt bệnh ở khắp thế giới.

Năm 1923 tôi (tác giả) đương ở Trung Hoa th́ bệnh thời khí hoành hành ghê gớm ở đó, và ở giữa cảnh nghèo nàn và ngu dốt của người Trung Hoa, tôi có thể lại Bắc Kinh tiêm thuốc ngừa bệnh ở Viện Rockefeller. Trước ngày đó tôi không thấy được công ông giúp hạng người đau khổ ở châu Á và những nơi hẻo lánh nhất thế giới. Viện Rockefeller đă rán diệt loài sán. Hiện nay Viện đương tấn công bệnh rét rừng và các y sĩ của viện đă t́m thấy thuốc trừ một bệnh sốt rét ghê gớm, bệnh hoàng ngược.

Nhưng con người giàu nhất thế giới đó xây dựng sự nghiệp khổng lồ cách nào?

Ngay từ hồi nhỏ ông đă có tư cách tỏ rằng sau này sẽ thành công. Ông là con một y sĩ lang thang, thường đi nơi này nơi khác, để mẹ con ông ở nhà, trong một trại ruộng tại Moravia, gần hồ Owasco, giữa một xứ của dân da đỏ. Một hôm John thấy một con gà mái rừng đi t́m chỗ yên tĩnh để làm ổ. Mẹ ông bảo ông đi kiếm ổ gà đó rồi bắt con gà đem về trại nuôi. Ông mất hai ngày mà không có kết quả nhưng, đúng như lời một người viết tiểu sử ông chép lại chuyện đó, ông có cái "Thiên tài kiên tâm","Một sức kiên tâm tàn nhẫn, không ǵ lay chuyển được". Ông không chịu thua, tiếp tục ŕnh con gà, theo dơi nó hoài và hai ngày sau, ông bắt được cả mẹ lẫn con về trại. Lần nuôi gà đó là công việc làm ăn đầu tiên của ông. Ông bán được tiền, bỏ vào một chiếc chén rạn. Để kỷ niệm bước đầu đó, sau này, trong cái trại nổi tiếng rộng bốn ngàn mẫu của ông ở Pocantico Hills, luôn luôn ông nuôi một bầy gà mái tây cho tới khi ông chết.

Đi học ông cũng siêng năng nhưng không có nhiều kết quả. Ông chỉ thích môn toán. Sau này ông bảo:

-Tôi chỉ là một người thích những con số. Ông tập t́m hiểu nghĩa của các số đi. Nó sẽ cho ông biết nhiều sự thực cay đắng mà thấy rơ được tương lai.

Ông được mười một tuổi khi thân mẫu ông ở nhà một ḿnh, phải chống cự với cảnh cơ hàn để nuôi năm người con. Ông phải làm mướn cho một chủ trại láng giềng và ki cóp tiền công cho tới khi trong cái chén rạn của ông có được năm mươi lăm Mỹ kim. Lúc đó ông đem trọn số tiền cho chủ vay, lời bảy phân, và ông thấy rằng số vốn đó mỗi năm đem lại cho ông một số tiền bằng tiền công mười ngày làm việc mệt đừ.

Ông nói:

-Thế là tôi giải quyết được vấn đề. Tôi quyết định ngay là sẽ bắt tiền bạc làm nô lệ cho tôi, chứ không chịu làm nô lệ cho tiền bạc nữa.

Vài năm sau, John D. Rockefeller vào làm thư kư trong một tiệm bán buôn đồ tạp hoá ở Cleveland. Ông làm phụ về kế toán rồi lên làm sếp kế toán. Chủ không chịu tăng lương, ông xin thôi, cùng với hai bạn thân, ra mở tiệm. Trong công việc làm ăn này, ông chỉ trông nom sổ sách. Công việc phát triển, nhưng chàng thanh niên Rockefelle tiếp tục sống quá giản dị: Chàng để dành vốn. Kế đó, ở Clevelanl người ta ùa nhau đi kiếm dầu lửa ông cũng theo gót người ta đi kiếm dầu. Trái hẳn với điều nhiều người tưởng, không phải dầu lửa làm cho Rockefeller giàu có: Rockefeller là cái máy làm ra tiền, bất kỳ ở đâu cũng làm giàu được, dù là bán tạp hoá hay bán dầu lửa. Nhưng dầu lửa mở cho ông những thị trường rộng hơn. Chỉ trong vài năm, anh chàng bán tạp hóa tư bản đó (lúc ấy vốn của ông đă quan trọng), bỏ việc kế toán của tiệm để đảm nhiệm công việc kế toán trong nhà máy lọc dầu. Xí nghiệp phát triển, số lời tăng lên, nhưng luôn luôn ông đập lời vào vốn. Kư hiệu của Rockefeller là cục tuyết, càng lăn trên tuyết th́ càng lớn lên. Lần đầu ông nuốt hết những hăng lọc dầu cạnh tranh với ông. Khi ông về Nữu Ước, ông đă tỷ phú mà ráng làm không cho ai biết ḿnh. Những tỷ phú khác th́ yến tiệc liền liền, sắm du thuyền, lập chuồng nuôi ngựa đua, cất lâu đài ở Ecosse, c̣n ông th́ sống như một nhà tiểu doanh thương lương thiện trong gia đ́nh nhũn nhặn, kiểu mẫu. Thói quen của ông sau này có thay đổi, mức sống của ông có tăng lên, nhưng số chi tiêu bao giờ cũng ở dưới số tăng của tiền lời. Về già ông dựng một trại quá sức tưởng tượng, tức trại Pocantico Hills: Mấy ngàn mẫu rừng, băi cỏ, vườn tược, trong đó có đường cái, ḍng nước và bảy mươi lăm biệt thự cho con cháu! Nhưng nếu John D. Rockefeller lập trại đó hai chục năm trước, th́ ông đă không c̣n là John D. Rockefeller, nhà giữ kỷ lục khắp thế giới về việc gây vốn nữa. Khi ông lập trại th́ phí tổn không thấm vào đâu với số lời của ông: Mỗi tháng ông lời trên sáu triệu Mỹ kim, không có cách tiêu pha điên cuồng nào mà hết được số tiền ấy. Bây giờ th́ cái xa xỉ lớn nhất của ông là không thuộc về đời tư của ông nữa, mà thuộc về những công việc từ thiện, việc xây dựng những viện khảo cứu khoa học, việc trợ cấp để bảo tồn điện Versailles, nhà thờ Reims và biết bao bảo vật khác của văn minh. Và mặc dầu tiêu pha nhiều như vậy, gia tài của John D. Rockefeller cũng vẫn tiếp tục tăng theo cái mức trên dưới một trăm Mỹ kim mỗi phút!
__________________
PHONG LINH
Reply With Quote
  #6  
Old 07-15-2009, 08:49 AM
Phonglinh's Avatar
Phonglinh Phonglinh is offline
Nhị Linh Tiểu Nha Đầu
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 1,176
Thanks: 0
Thanked 2 Times in 2 Posts
Default Re: 40 Gương Thành Công

Gương 6
Albert Einstein


Một ngày cách đây mấy năm, tôi (tác giả) đi chơi trong một châu thành nhỏ tại miền Nam nước Đức, th́ một ông bạn cùng đi với tôi bỗng đứng lại, chỉ một cửa sổ ở trên lầu một tiệm tạp hoá và bảo:"Anh thấy căn pḥng nhỏ ở trên kia không? Einstein ra đời tại đó".

Chiều tối hôm đó tôi gặp Einstein tại nhà một ông chú của ông và tôi không có cảm tưởng rằng ông là một bậc "siêu quần". Điều đó không có ǵ lạ, v́ ngay hồi nhỏ cũng không ai tin rằng ông có tài ǵ lớn. Bây giờ người ta nhận rằng ông là một tuyệt đỉnh thông minh, một thiên tài của thế hệ này, một trong những nhà tư tưởng sâu sắc nhất cổ kim, vậy mà năm chục năm trước ông là em nhỏ chậm chạp, nhút nhát, đần độn, tập nói một cách vô cùng khó khăn. Ông tối dạ đến nỗi thầy học của ông phải bực ḿnh và song thân ông sợ rằng ông vào hạng hạ nhân.

Ít năm trước đây một buổi sáng, ông thức dậy ngạc nhiên thấy ḿnh thành danh nhân bực nhất thế giới, không thể tin được rằng một giáo sư toán mà lại được báo chí khắp toàn cầu in tên bằng chữ lớn lên trang đầu như vậy. Ông là một nhà khoa học chứ đâu phải là một nhà quyền thuật hạng Jack Dempsey. Ông thú rằng không thể hiểu được điều đó. Mà cũng không ai hiểu được điều đó. V́ một chuyện như vậy chưa hề xảy ra trong lịch sử loài người.

Con người của ông cũng lạ lùng như thuyết Tương đối của ông vậy. Ông khinh những cái mà phần đông loài người mơ ước như danh vọng, của cải, xa hoa. Chẳng hạn thuyền trưởng một chiếc tàu biển nọ dành cho ông dăy pḥng sang trọng nhất dưới tàu, ông từ chối, bảo rằng đi hạng chót c̣n thích hơn là nhận bất kỳ một đặc ân ǵ. Ngày ngũ tuần của ông, chính phủ Đức ban cho ông đủ các ân huệ, dựng một tượng bán thân của ông ở Potsdam, tặng ông một dinh thự và một chiếc tàu buồm, gọi là tỏ ḷng quư mến và ngưỡng mộ của dân tộc nhưng chỉ ít năm sau, người ta lấy lại hết những cái đó và ông sợ, không dám trở về quê quán nữa. Trong mấy tuần lễ, ông trốn trong một ngôi nhà, cửa song sắt ở nước Bỉ và đêm nào cũng có một người lính canh cho ông ngủ. Khi ông tới Nữu Ước để làm giáo sư toán ở trường đại học Princeton, ông sợ các nhà báo phỏng vấn và dân chúng hoan hô, nên các bạn thân của ông phải bí mật cho ông xuống thuyền đưa lên bờ trước khi tàu ghé bến rồi chở ông đi bằng xe hơi. Ông nói rằng khắp thế giới chỉ có mười hai người hiểu được Thuyết tương đối của ông, mặc dầu đă có trên chín trăm cuốn sách giảng giải nó. Chính ông giải thuyết đó bằng thí dụ dễ dàng và hóm hỉnh này: "Khi anh ngồi với một mỹ nhân, th́ một giờ anh tưởng chừng chỉ bằng một phút, nhưng khi ngồi trên một ḷ lửa nóng th́ mới một chút anh coi là một giờ". Tương đối là vậy, chứ có ǵ đâu. Tôi cho nó đúng, c̣n nếu bạn ngờ nó sai th́ bạn cứ thí nghiệm, nhưng xin bạn ngồi trên ḷ nóng c̣n để tôi ngồi với mỹ nhân nhé.

Bà Einstein nói rằng bà không hiểu thuyết tương đối là cái quái ǵ cả, nhưng bà hiểu một cái ǵ quan trọng đối với đàn bà hơn, là hiểu chồng bà. Một đôi khi có khách khứa lại uống trà và bà lên lầu mời Giáo sư xuống chuyện tṛ ít lâu. Ông la bể nhà lên: "Không! Không! Tôi không xuống! Không xuống! Tôi phải đi khỏi nhà này mới được. Làm việc ở đây không được. Cấm đấy, không được làm ngưng công việc của tôi như vậy được nữa đa". Bị ông la như vậy bà cứ điềm tỉnh, để ông phát hết cơn giận của ông ra, rồi bà khéo léo ngoại giao làm sao mà ông cũng xuống nhà dưới uống trà và xả hơi một chút. Bà làm vậy chỉ v́ thấy ông làm việc quá, muốn cho ông nghỉ.

Bà bảo rằng chồng bà thích sự thứ tự trong tư tưởng mà không thích sự thứ tự trong đời sống. Ông muốn làm cái ǵ là làm, chẳng kể giờ giấc ǵ cả. Ông hành động chỉ theo hai quy tắc. Quy tắc thứ nhất là không có quy tắc nào cả. Và quy tắc thứ nh́ là bất chấp dư luận. Ông sống rất giản dị, đi đâu cũng chỉ bận áo cũ, nhàu nát, ít khi đội nón; vào pḥng tắm th́ ca hát, huưt sáo vang lên. Xà bông để tắm th́ ông dùng để cạo râu. Con người ráng giải quyết những bí ẩn phức tạp nhất của vũ trụ đó, bảo rằng dùng hai thứ xà bông chỉ làm cho đời thêm phức tạp. Nh́n ông tôi có cảm tưởng rằng ông rất sung sướng. Triết lư về hạnh phúc của ông giúp cho tôi nhiều hơn thuyết tương đối của ông mà tôi cho rằng triết lư hạnh phúc đó rất cao đẹp. Ông bảo rằng ông sung sướng v́ ông không cần một thứ ǵ của bất kỳ người nào. Ông không cần tiền, không cần chức tước, không cần lời khen. Ông t́m hạnh phúc cho ông trong những việc rất giản dị là làm việc, chơi vĩ cầm và thả thuyền. Cây đờn vĩ cầm làm cho ông vui nhất. Ông bảo rằng ông thường suy nghĩ bằng âm nhạc và mơ mộng bằng âm nhạc. Một lần, đi xe điện ở Bá Linh, ông bảo người bán giấy đă tính lộn khi thối tiền cho ông. Người đó đếm lại thấy đúng, đưa tiền cho ông, bảo: "cái tai hại của ông là ông không biết đọc con số".
__________________
PHONG LINH
Reply With Quote
  #7  
Old 07-15-2009, 08:58 AM
Phonglinh's Avatar
Phonglinh Phonglinh is offline
Nhị Linh Tiểu Nha Đầu
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 1,176
Thanks: 0
Thanked 2 Times in 2 Posts
Default Re: 40 Gương Thành Công

Gương 7
Upton Sinclair


Upton Sinclair đă viết bốn mươi tám cuốn sách và bán ra trên năm trăm bài châm biếm. Sách của ông bán được hai triệu cuốn ở Đức, ba triệu cuốn ở Nga. Mặc dầu ông là người Mỹ mà sách của ông được hoan nghênh ở châu Âu nhiều hơn là ở Mỹ. Có lần tôi (tác giả) vào một tiệm sách nhỏ ở Nice, thấy sách của Upton Sinclair c̣n nhiều hơn sách của hết thảy các tác giả Anh, Mỹ khác nhập lại. Tác phẩm ông được dịch ra bốn mươi bốn thứ tiếng và có lần ông bảo tôi rằng chính ông cũng không biết hết những tiếng đó là tiếng ǵ và ở nước nào. Khắp thế giới, ông là nhà văn c̣n sống mà được nhiều người đọc nhất.

Bây giờ ông sáu mươi tám tuổi và ông đă viết trên năm chục năm, từ hồi ông mười sáu. Ông đă viết hàng tỷ chữ, hơn số chữ trong Cựu và Tân Ước hợp lại.

Vẻ mặt ông hao hao như ông Woodrow Wilson và ông hăng hái nuôi một lư tưởng. Ông muốn diệt con ma nghèo, v́ kinh nghiệm đă cho ông biết nỗi cay đắng của cảnh nghèo. Ông bảo tôi rằng có lần, luôn trong sáu năm trường, gần như ngày nào ông cũng bị cái đói gậm nhấm.

Thân phụ ông là một người bán rượu Whisky và nghiện rượu, hồi nhỏ, khi ở Baltimore, rồi sau ở Nữu Ước, cứ đêm đêm, ông thường đi kiếm cụ ông ở khắp các tửu quán, rồi đỡ cụ về nhà, khiêng vào gường, c̣n cụ bà th́ móc túi chồng để lấy tiền giấu đi, phải vậy th́ hôm sau mới có tiền đi chợ. Gia đ́nh đó nghèo tới nỗi họ phải sống trong những nhà cho mướn rẻ tiền nhơ nhớp đầy muỗi, rệp, nghèo tới nỗi phải dời nhà hoài, v́ thiếu tiền trả, bị chủ đuổi.

Upton Sinclair nhiệt liệt chủ trương sự cấm bán rượu mạnh. Ai ở vào cảnh ông mà không vậy. Rượu mạnh đă tàn phá gia đ́nh ông và làm cho tuổi thơ của ông khô héo cằn cỗi. Ông bảo rằng rượu mạnh đă làm cho hai người bạn thân nhất của ông chết yểu, tức Jack London và Eugene V. Debs. Ông cũng không uống trà và cà phê mà cũng không hút thuốc. Măi tới mười tuổi, ông mới được tới trường nhưng đă tự học và biết đọc - trước khi vô trường th́ ông đă ngấu nghiến hết các tác phẩm của Dickens và của Thackeray, lại đọc mấy chục cuốn sách khác và một phần lớn bộ Bách khoa tự điển. Mới vô trtường được hai năm, ông đă đủ sức theo đại học rồi.

Hồi vào đại học, ông không có lấy một xu mà lại phải nuôi mẹ nữa. V́ vậy, ông phải vừa học vừa viết những truyện cười ngăn ngắn cho các tạp chí rẻ tiền, để lấy tiền ăn học tại City College ở Nữu Ước và trường đại học Columbia. Mỗi đêm ông đọc cho người khác chép một truyện dài tám ngàn chữ, nghĩa là mỗi tháng ông vừa học vừa viết một tiểu thuyết dài trung b́nh. Sức làm việc của ông thật kinh thiên. Cả một triệu người không được một người như ông.

Ở trường đại học ra, ông viết những truyện kiếm hiệp hấp dẫn cho các tạp chí nhi đồng và kiếm được mỗi tuần lễ mười bốn Anh kim. Số tiền đó đă lớn đối với một tác giả mới hai mươi tuổi. Nhưng ông viết không phải là để kiếm tiền. Ông viết với mục đích diệt sự nghèo bất công. Cho nên mặc dầu vợ th́ đau con th́ nhỏ, một ḿnh ông phải lo nuôi gia đ́nh, mà ông dám bỏ số tiền đó, dựng một cái lều vải ở New Jersy và bắt đầu viết những tiểu thuyết tuyên truyền, những tiểu thuyết để cải tạo thế giới. Ông bỏ ra năm năm soạn năm tiểu thuyết và năm cuốn đó đem lại cho ông có hai trăm Anh kim nghĩa là có bốn mươi Anh kim mỗi năm, bằng số tiền ông kiếm được trong ba tuần, hồi ông viết truyện cho trẻ em.

Gần như lúc nào ông cũng chịu cảnh đói. Một hôm, bà vợ, vốn khao khát một chút xa hoa vào tiệm mua về một tấm khăn trải bàn sọc đỏ giá một cắc sáu. Nhưng ông bắt bà đem lại tiệm trả và đ̣i tiền về, v́ một cắc sáu đủ cho cả nhà ăn trong một ngày.

Tiểu thuyết thứ sáu của ông nhan đề Rừng rậm được độc giả rất hoan nghênh và đem về cho ông sáu ngàn Anh kim. Ông đem trọn số tiền đó tặng một hội ở New Jersy, một loại hợp tác xă văn nhân, họa sĩ, nhạc sĩ mục đích là giúp đỡ lẫn nhau sống một cách tiết kiệm, Sinclar Lewis sống ở đó một thời gian và giữ việc coi ḷ, nhưng chắc chắn Lewis làm không được việc ǵ, v́ một đêm lửa trong ḷ bắt vào nhà và cháy rụi, thế là hội tan.

Upton Sinclair luôn luôn là một nhà cải cách hăng hái. Ông và Inez Mullholland cầm đầu một cuộc biểu t́nh đầu tiên ở châu thành Nữu Ước để đ̣i cho phụ nữ được quyền đầu phiếu. Ông luôn chiến đấu chống lại sự hạn chế sanh đẻ và luôn ba chục năm ông là một trong những người chỉ huy đảng xă hội ở Mỹ.

Khi ông muốn nói cái ǵ, ông nhất định theo cho tới kỳ cùng. Chẳng hạn một lần ông muốn học đàn vĩ cầm, ông tập mỗi ngày tám giờ, gần như không bỏ ngày nào, trong ba năm, các người hàng xóm phàn nàn về tiếng cù cưa nhức óc của ông, ông ôm đàn vào rừng kéo cho chim và sóc nghe.

Ông bảo tôi rằng ông đă bị bắt bốn lần. Một lần bị bắt và nhốt vào khám mười tám giờ ở Wilmington v́ ông chơi quần vợt ngày Chủ Nhật. Lần khác ông bị giam ở Tombs tại Nữu Ước trong ba ngày v́ ông lẳng lặng đi đi lại lại trước pḥng giấy của John D. Rockefeller. Lần thứ ba ông bị bắt v́ bán một Thánh kinh cho sở Công an ở Boston, và lần cuối cùng ông bị bắt v́ ráng đọc Hiến pháp Hoa Kỳ, trong khi đứng trước một tư gia, mà trong tay không có giấy chủ nhà cho phép đứng tại đó.
__________________
PHONG LINH
Reply With Quote
  #8  
Old 07-15-2009, 09:08 AM
Phonglinh's Avatar
Phonglinh Phonglinh is offline
Nhị Linh Tiểu Nha Đầu
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 1,176
Thanks: 0
Thanked 2 Times in 2 Posts
Default Re: 40 Gương Thành Công

Gương 8
Edward Bok


Một hôm có em nhỏ ốm đói, ở trường về, ngừng trước một tiệm bánh, thèm thuồng nh́n những ổ bánh ḿ nóng và những bánh ngọt phết kem.

Người bán hàng thấy vậy, đi ra, hỏi:

- Sao? Em thấy có vẻ ngon lắm, phải không?

Em nhỏ Ḥa Lan đó đáp:

- Nếu tấm kính không dơ th́ c̣n có vẻ ngon hơn nữa.

Người bán hàng bảo:

- Em nói đúng. Em chùi nó được không?

Thế là Edward Bok lănh được việc làm đầu tiên trong đời em. Mỗi tuần người ta trả em có năm cắc, nhưng đối với em th́ bấy nhiêu là cả một kho tàng rồi! Cha mẹ em nghèo tới nỗi ngày nào em cũng phải đi lượm những mảnh than vụn từ trên xe cam nhông rớt xuống đường, xuống rănh.

Em nhỏ đó - Edward Bok, không biết một tiếng Anh nào khi đặt chân lên đất Mỹ, và nghe thầy giáo giảng bài, em không hiểu ǵ hết. Em chỉ học có sáu năm, vậy mà sau này làm giám đốc một tạp chí, đă thành công nhất trong nghề làm báo ở Mỹ.

Edward Bok thú nhận rằng ông không biết chút ǵ về sở thích phụ nữ, mặc dầu vậy, ông đă sáng lập một Tạp chí phụ nữ lớn nhất thế giới mà số trang và số in cứ mỗi ngày một tăng. Ngày mà ông giao công việc quản lư cho người khác để về nghỉ, th́ tạp chí in hai triệu số mỗi tháng và nội tiền quảng cáo cũng đă đem cho ông một triệu Mỹ kim mỗi kỳ rồi.

Edward Bok làm chủ nhiệm tờ Ladie's Home Journal trong ba chục năm. Khi ông thôi làm báo, ông viết tiểu sử ông trong cuốn The Americazination of Edward Bok. Sau khi chùi kính cho tiệm bánh ḿ, ông làm đủ các nghề khác nhau, ta có thể nói là ông sưu tập mọi nghề một cách hăng hái như thanh niên sưu tập tem vậy. Sáng thứ Bảy ông bán báo. Chiều thứ Bảy và ngày Chủ Nhật ông đem nước chanh và đồ giải khát cho những du khách ở các trạm xe ngựa. Tối Chủ Nhật ông viết truyện t́nh cho một tờ báo trong vùng. Tóm lại, ngoài giờ học, ông làm mọi việc để kiếm tiền từ sáu tới hai chục Mỹ kim mỗi tuần. Lúc đó ông mười hai tuổi và qua ở Mỹ chưa được sáu năm.

Mười ba tuổi mà ông đă phải thôi học, vào làm chân sai vặt trong pḥng giấy ở hăng Western Union nhưng không lúc nào ông không học thêm, ông nhất định tự học, Ông đi bộ tới hăng cho khỏi tốn tiền xe, và nhịn bữa trưa để mua một cuốn Tự điển danh nhân Hoa Kỳ. Rồi ông làm một việc lạ lùng: Đọc tiểu sử những danh nhân đương thời và cả gan viết thư xin họ cho biết chi tiết về tuổi thơ của họ. Ông viết cho đại tướng James A. Garfield, lúc đó ứng cử chức tổng thống, hỏi đại tướng có phải hồi nhỏ đă phải kéo tàu buồm nhỏ cho khách chơi không. Ông lại viết cho đại tướng Grant hỏi về một trận nào đó. Grant vẽ một bản đồ cho coi, c̣n mời thằng nhăi mười bốn tuổi tới ăn cơm và nói chuyện trọn buổi với ḿnh nữa. Thành thử cậu bé kiếm được sáu đồng hai cắc rưỡi đó làm quen được với những người nổi danh nhất đương thời. Tức khắc ông làm quen được với những người chỉ huy thế giới, hiểu được cách họ nh́n đời, sự quen thuộc đó quư báu vô cùng đối với một ông chủ báo. Cậu lại thăm Emerson, Philip Brooks, Oliver Wendell Holmes, Longfellow, phu nhân Lincoln lúc đó đă góa, thăm Louia, May Alcott và tướng Sherman.

Sự quen biết các danh nhân ảnh hưởng đến sự biến chuyển của Edward Bok. Một người có tài mà không được sống gần các giới chỉ huy, có khi phải đợi rất lâu mới tiếp xúc được với những người biết nhận tài năng của ḿnh. Điều này c̣n tai hại hơn: Có thể rằng chính người đó không biết ḿnh có tài, không ngờ nổi ḿnh làm việc này việc nọ, thành thử uổng sức trong những năm trẻ trung để làm những việc tầm thường, rồi về già mới được thi thố tài năng - nếu không chết sớm - mà phí cả một đời. Sáng kiến của Edward Bok tỏ rằng ông không chịu đứng lâu một chỗ, khi chỗ đó không xứng với tài ông. Một hôm ở ngoài đường, Edward Bok thấy một người mở một bao thuốc lá, rút tấm h́nh ra coi rồi liệng đi. Bok thấy là h́nh người, lượm lên xem, th́ ra một chính khách có danh tiếng, phía sau để trắng.

Ông nghỉ: "Nếu chép ở sau tấm h́nh ít hàng tiểu sử của nhân vật th́ có lẽ h́nh không bị liệng như vậy".

Ông bèn nảy ra một ư. Hôm sau ông bỏ bữa cơm trưa, đi ngay lại nhà xuất bản đă in những h́nh đó. Ông thuyết người chủ, giọng hăng hái và quyết tín đến nỗi người đó xiêu ḷng, nhờ ông viết cho một trăm tiểu sử danh nhân, mỗi tiểu sử một trăm chữ, tiền nhuận bút là mười Mỹ kim. Chẳng bao lâu người đó cậy ông viết nhiều quá, ông phải kiếm vài người cộng tác, trả cho họ một nữa tiền, nghĩa là năm Mỹ kim mỗi tiểu sử. Rồi ông bỏ luôn chân gác cửa, nhào vô nghề xuất bản.


Năm ông đi Philadelphie để lănh việc nhận quản lư tạp chí Ladie's Home Journal. Ông đúng hai mươi sáu tuổi. Năm ông đóng cửa pḥng giấy của ông lần cuối cùng và bảo:"Thôi, từ nay không trở lại đây nữa" th́ ông đúng năm mươi sáu tuổi, đương lúc tinh thần c̣n tráng kiện. Trong ba chục năm đó, ông đă tự tạo được một địa vị độc nhất trong nghề làm báo ở Hoa Kỳ. Ông đă giàu lớn, nhưng không phải chỉ v́ ông nhiều tiền mà gọi ông là thành công được. Bây giờ ta thử xét xem Edward Bok đă giúp mỗi người Hoa Kỳ được những ǵ. Trước hết, thức ăn được tinh khiết hơn là nhờ những bài báo của tạp chí ông hô hào sự kiểm soát thực phẩm. Thành phố Hoa Kỳ sạch sẽ hơn, hợp vệ sinh hơn nhờ ông đă bỏ tiền ra gây một dư luận mạnh mẽ chống sự chất rác thành đống trong châu thành. Nhà cửa ngày nay xây cất và trang hoàng cũng đẹp hơn xưa nhờ những bài mạt sát kiểu nhà vừa xấu vừa đắt tiền của thế kỷ trước. Ông thành công đến nỗi Tổng Thống Theodore Roosevelt khen rằng: Edward Bok là người độc nhất mà tôi biết đă dùng phương pháp cải thiện mà thay đổi hẳn cách ở của cả một dân tộc.

Mười năm cuối trong đời ông, sau khi về nghỉ hưu rồi, ông lập vườn, mua hàng ngàn củ uất kim hương ở quê hương ông là Ḥa Lan đem trồng hai bên đường cho vui mắt khách qua đường. Ông cho trồng hồng lên những băi cỏ chung quanh các ga xe lửa. Nhưng lâu đài nổi danh và lâu bền nhất của ông là ngôi tháp lạ lùng Singing Tower ở Floride. Chỗ mà hồi xưa chỉ là một khoảng cát khô khan trên một ngọn đồi cao nhất ở Floride th́ bây giờ thành nơi ẩn náu của loài chim, thành một vùng xanh mướt, có hàng trăm ngàn cây lớn nhỏ. Và vượt lên rừng cây đó là một ngôi tháp có chuông cao khoảng sáu chục thước, xây bằng cẩm thạch hồng, tháp đó in bóng lên mặt hồ trong veo, mát mẻ ở dưới chân.
__________________
PHONG LINH
Reply With Quote
  #9  
Old 07-15-2009, 09:19 AM
Phonglinh's Avatar
Phonglinh Phonglinh is offline
Nhị Linh Tiểu Nha Đầu
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 1,176
Thanks: 0
Thanked 2 Times in 2 Posts
Default Re: 40 Gương Thành Công

Gương 9
Evangeline Booth


Người đàn bà lạ lùng nhất mà tôi biết, đă từ chối lời cầu thân của hàng ngàn người, từ những danh nhân đến những bác đánh cá, từ những ông chủ đồn điền đến những anh cầu bơ cầu bất, không xu dính túi. Một ông hoàng trong một hoàng tộc lớn nhất ở Châu Âu đeo đuổi bà hàng tháng, năn nỉ bà nhận lời cầu thân của ông và mặc dầu bà gần đến cái tuổi cổ lai hy rồi, mà vẫn c̣n nhiều bức thư gởi tới xin cưới bà, nhiều đến nổi cô thư kư bà không buồn đưa bà coi nữa.

Tên bà là Evangeline Booth,người dẫn đầu đạo binh lớn nhất mà chưa hề tấn công một quân địch nào - "Đạo binh Cứu khổ" - một đạo binh có ba vạn sĩ tốt nuôi những kẻ đói ở sáu mươi nước xa xôi và ban bố t́nh thương bằng tám chục ngôn ngữ. Khi tôi (tác giả) gặp bà Evangeline Booth, tôi hơi ngạc nhiên. Tôi biết rằng bà đă già, có thể có cháu chắt được rồi, vậy mà mớ tóc của bà chỉ có vài sợi trắng. Cặp mắt, vẻ mặt bà linh động, hăng hái làm sao.

Người ta bảo rằng bốn chục tuổi mà c̣n là đương xuân ư? Nếu bạn thấy bà Evangeline Booth cỡi một con ngựa bất kham phải tới hai người đàn ông mới gh́m nổi nó, th́ bạn sẽ tin rằng bảy chục tuổi vẫn c̣n là đương xuân. Bà mua con ngựa đó rẻ mạt, v́ chủ ngựa không dám cỡi nó. Tên ngựa là T́m Vàng và khi bà leo lên lưng con T́m Vàng, la "Đi" th́ nó nhẩy, nó phóng tới, nhảy lui, quay bên này, bên kia, giậm khắp khu đất, rồi mới chịu ngoan ngoăn theo ư bà. Mỗi buổi sáng bà cưỡi nó một giờ. Có khi một tay cầm cương, một tay cầm một bài diễn văn, bà vừa cho ngựa phi trong rừng vừa suy nghĩ về bài đó. Một ngày hè, nếu bà ở Châu Mỹ, th́ bà lại hồ Lake George để bơi lội; và năm bà sáu mươi ba tuổi, bà lội qua hồ trong bốn giờ. Bà ngủ, luôn luôn ở đầu gường có miếng giấy cứng lót tay để viết và thường khi, bà thức giấc, ghi ít ư nghĩ lên giấy. Một đêm bà không ngủ được, ba giờ sáng dậy sáng tác một bài nhạc, có cả lời ca. Mặc dầu bà có ba cô thư kư trong nhà mà nhiều khi bà dậy làm việc từ hai giờ sáng. Ngồi xe hơi từ nhà bà đến sở, mất một giờ; trong thời gian đó bà đọc cho thư kư đánh máy.

Bà nói rằng kinh nghiệm kích thích nhất trong đời bà xảy ra hồi thiên hạ ùa nhau lại miền Yukon đào vàng. Chắc bạn c̣n nhớ, cuối thế kỷ trước, người ta kiếm được vàng ở Alaska và tin đó làm cho dân chúng nô nức háo hức. Từng bọn người vội vàng bồng bế nhau lên phía Bắc, và bà nghĩ rằng Đại binh Cứu khổ phải theo họ lên đó. Thế là bà dắt theo hai cô nữ y tá có kinh nghiệm và ba cô phụ nữa, lên miền Yukon. Khi bà tới Skagway, trứng và bơ mắc như vàng. Nhiều người đói mà người nào cũng đeo súng sáu kè kè bên ḿnh. Đi đâu bà cũng nghe tên Smith "hiền". Mà y chẳng hiền chút nào cả. Y là một kẻ giết người không gớm máu ở Klondike. Y và bè đảng của y đứng đợi bọn đào vàng về, không hỏi han, báo trước ǵ hết, bắn họ để cướp vàng. Chính phủ Hoa Kỳ gởi một đội quân tới để giết y, nhưng y giết trọn đội và trốn thoát.

Skagway là một nơi khủng khiếp. Ngày bà tới, có năm người bị giết.

Đêm đó, bà họp đám đông ở bờ sông Yukon, giảng đạo cho hai mươi ngàn người đàn ông cô độc và bảo họ hát những bài mà hồi nhỏ thân mẫu của họ đă hát cho họ nghe, như bài Jesus, Lover of my soul, bài Nearer my God to Thee, bài Home sweet home. Đêm ở miền đó lạnh cóng; trong khi bà hát, một người lấy một cái mền trắng quấn vào người bà. Đám đông đó hát cho tới một giờ khuya; rồi Evangeline Booth cùng các cô giúp việc vô rừng, ngủ trên đất, dưới gốc thông. Họ mới bật lửa, sửa soạn nấu một chút ca cao th́ thấy năm người ôm súng tiến tới. Khi họ c̣n cách một khoảng nói vừa đủ nghe, th́ họ ngừng lại, người cầm đầu ngả mũ, nói:"Tôi là Smith "Hiền" đây, tôi lại cho cô hay, tôi nghe cô hát mà thích lắm."; rồi hắn nói thêm:"Tôi đă sai người đem lại cho cô chiếc mền trắng trong khi cô hát. Nếu cô muốn giữ nó th́ cứ giữ lấy." Một cái mền bấy giờ không đáng giá là bao; nhưng hồi đó, trong khi nhiều người chết v́ lạnh và ẩm ướt, th́ nó thực là một tặng vật quư báu. Bà Booth hỏi hắn rằng bà ở Skagway có sợ tai nạn ǵ không. Hắn đáp:"Tôi c̣n ở đây th́ cô khỏi lo. Tôi sẽ che chở cho cô".

Bà nói chuyện với hắn ba giờ, bảo hắn: "Tôi đem lại đời sống cho người ta, mà ông lại cướp đời sống của người ta. Như vậy không nên. Ông không thắng loài người đâu. Sớm muộn ǵ họ cũng giết ông. Bà gợi chuyện cho hắn nói về tuổi thơ và thân mẫu hắn, và hắn kể với bà rằng hồi nhỏ hắn thường cùng với bà nội đi coi các cuộc hội họp của Đội binh Cứu khổ, lần nào hắn cũng hát và vỗ tay khen và hắn thú nhận rằng khi sắp mất, bà nội hắn bảo hắn hát một bài mà hai bà cháu cùng học được tại các cuộc hội họp của Đội binh Cứu khổ, và hắn hát:

Ḷng tôi bây giờ trắng hơn tuyết,
V́ đức Jesus cùng ở với tôi tại đây,
Tội của tôi, tôi biết là nhiều lắm,
Nay được tha hết. Tôi bây giờ trong sạch.

Bà bảo hắn quỳ xuống và một thiếu nữ ở "Đội binh Cứu khổ" với một tên ăn cướp hung dữ nhất miền Bắc, cùng quỳ xuống bên cạnh nhau, cùng cầu nguyện, cùng khóc với nhau ở trong rừng thông. Nước mắt chảy ṛng ṛng, Smith "Hiền" hứa với bà sẽ không giết người nữa, và sẽ ra đầu thú, c̣n bà th́ hứa với hắn sẽ tận lực xin chánh phủ giảm tội cho hắn.

Khoảng bốn giờ sáng hắn từ biệt bà. Tới chín giờ, hắn cho người mang tặng bà một ổ bánh c̣n nóng hổi, bánh ngọt, mứt và nửa kư bơ, những món vô giá đối với nơi đó thời đó. Hắn đă bắn người để cướp bột và bơ, và một người đàn bà trong bọn của hắn xin lănh cái hân hạnh làm bánh, mứt để tặng bà. Hai ngày sau, có kẻ bắn chết Smith "Hiền" và Skagway dựng một đài kỷ niệm vị ân nhân ấy.

Evangeline Booth là một trong những người sung sướng nhất mà tôi đă gặp. Bà sung sướng v́ bà sống cho người khác.
__________________
PHONG LINH
Reply With Quote
  #10  
Old 07-15-2009, 09:31 AM
Phonglinh's Avatar
Phonglinh Phonglinh is offline
Nhị Linh Tiểu Nha Đầu
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 1,176
Thanks: 0
Thanked 2 Times in 2 Posts
Default Re: 40 Gương Thành Công

Gương 10
Theodore Roosevelt


Tôi không bao giờ quên được một tin xảy ra tháng giêng 1919. Lúc đó tôi c̣n trong quân đội đóng tại đồn Upton ở Long Island. Một buổi chiều, một phân đội leo lên đồi, lính đưa súng lên trời, bắn một loạt để báo tin Roosevelt đă từ trần! Theodore Roosevelt vị tổng thống đă lèo lái chính phủ Hoa Kỳ một cách đáng phục nhất từ trước tới nay. Ông vội ĺa đời sớm quá! Cái ǵ ở trong con người ông cũng lạ lùng, chẳng hạn ông cận thị nặng tới nỗi không đeo kính th́ cách mười thước cũng không nhận ra người bạn thân nhất của ông, vậy mà ông thành một thiện xạ và đi săn sư tử ở Châu Phi. Ông săn dă thú rất tài, vậy mà ông không hề giết một con chim hoặc câu một con cá. Hồi nhỏ ông xanh xao, ốm yếu và mắc bệnh suyễn. Gia đ́nh ông cho ông qua miền Tây để may ra sức khỏe của ông khá lên được chút nào chăng, ở đó ông sống đời cao bồi, ngủ giữa trời và nhờ như vậy, thể chất ông mạnh tới nỗi có thể đấu quyền Anh với Mike Donavan. Ông thám hiểm những khu rừng của Nam Mỹ, leo lên đỉnh núi Junfrau và Matterhoorn, dẫn đầu một đoàn kỵ binh tấn công San Juan Hill ở Cuba, làm cho quân địch mặc dầu dùng một hỏa lực kinh khủng mà cũng không sao chống cự nổi.

Trong tập tự thuật ông kể lại rằng hồi nhỏ ông quạu quọ, nhút nhát, luôn luôn sợ làm đau cho ḿnh. Vậy mà ông đă tự làm cho găy cổ tay, găy cánh tay, bể mũi, găy xương sườn, găy vai và không bao giờ ngừng dấn thân vào nguy hiểm. Khi ông ở Dakota, một hôm ông té ngựa găy tay, mà ông lại vẫn nhảy lên lưng ngựa, tiếp tục phi để gom đàn ḅ lại. Ông nói rằng trong thâm tâm ông sợ tới chết điếng đi, mà cũng ráng làm những việc ông ngại nhất, hành động như ḿnh dũng cảm lắm, để rèn luyện đức can đảm. Rốt cuộc ông thành gan dạ đến nỗi coi thường tiếng sư tử gầm và tiếng đại bác nổ.

Trong cuộc vận động "Bull Moose" năm 1912 một kẻ cuồng điên bắn một phát súng lục vào ngực ông khi dự cuộc hội họp công chúng để diễn thuyết. Ông không cho ai hay là bị thương, cứ đi thẳng lại nơi đă định và diễn thuyết, cho đến khi ông té xỉu v́ mất máu quá nhiều. Lúc đó người ta mới chở gấp ông lại nhà thương.

Trong khi ông làm tổng thống, có lần ông đấu quyền Anh với một sĩ quan. Viên sĩ quan này thoi vàp mắt bên trái của ông, làm đứt nhiều gân máu và con mắt ông vô phương chữa, nhưng ông không hề cho người đó hay.

Đích thân ông bửa tất cả số củi dùng trong trại của ông ở Oysterbay. Ông cắt cỏ, phơi cỏ với gia nhân trong trại và buộc người lănh canh phải trả công cho ông cũng như người ở chứ không được hơn.

Không bao giờ ông hút thuốc, ông cũng không khi nào chửi thề và chỉ năm th́ mười họa ông mới uống một muỗng nhỏ rượu mạnh pha vào sữa. Ông uống mà không để ư tới. Măi đến hôm người bồi của ông thú thực đă pha vài giọt rượu ông mới hay. Vậy mà có kẻ nói xấu ông nghiện rượu làm ông phải kiện họ về cái tội phỉ báng để họ hết phao tin đó đi.

Hồi ở Bạch ốc, công việc bề bộn là vậy mà ông vẫn có th́ giờ đọc hàng trăm cuốn sách. Nhiều khi ông phải tiếp khách suốt buổi chiều không lúc nào ngớt, nhưng luôn luôn có một cuốn sách ở bên cạnh để đọc ít hàng trong lúc đợi người khách sau.

Đi đâu xa ông thường đem theo tác phẩm của Shakespeare hoặc Robert Burns loại bỏ túi. Một hôm ngồi bên đống lửa coi gia súc ở Dakota, ông đọc lớn tiếng trọn kịch Hamlet của Shakespeare cho một cao bồi nghe. Trong khi du lịch qua rừng ở Ba Tây, mỗi buổi tối ông ấy đều đọc Thời suy tàn của đế quốc La Mă của Gibbon. Ông thích âm nhạc nhưng ca không đúng giọng. Lúc nào làm việc một ḿnh ông thường hát nhỏ bài thánh ca Hỡi thượng đế, xin cho con gần người hơn. Một hôm đi xe qua một tỉnh miền Tây, suốt dọc đường, quần chúng hoan hô ông, ông vừa ngả đầu chào bên tả bên hữu, vừa hát nho nhỏ bản thánh ca đó.

Một lần ông kêu điện thoại mời một thông tín viên có danh tiếng của nhân vật nào đó ở Hoa Thịnh Đốn lại ngay Bạch ốc. Phóng viên đó mừng quưnh, tưởng sắp được đặc biệt phỏng vấn Tổng thống về một việc nước, đánh điện cho ṭa soạn bảo dự bị sẵn để đăng một tin quan trọng nóng hổi. Nhưng khi ông ta tới Bạch ốc th́ Roosevelt không nói ǵ về chính trị cả, chỉ dắt ông ta lại một gốc cây già rỗng ruột ở trong vườn để chỉ cho ông ta một tổ đầy cú con mới kiếm ra được.

Một lần ngồi xe lửa qua miền Tây, trong khi chuyện tṛ với các ngài đại diện chính thức trong toa riêng, ông thấy một người chủ trại đứng trong ruộng lúa, cạnh đường rầy, ngả mũ chào ông. Ông nhảy ngay ra phía sau toa, cầm mũ vẫy mạnh mẽ. Ông làm vậy không phải để mua ḷng dân đâu mà v́ ông thành thật yêu dân. Năm cuối cùng, sức ông suy nên mặc dầu sáu chục tuổi mà đă thấy ḿnh già rồi. Ông viết thư cho một người bạn, "Chúng ḿnh đă kề miệng lỗ. Bất kỳ lúc nào, chúng ḿnh đều có thể từ giă cơi đời này".

Ông từ trần một cách êm đềm trong giấc ngủ, đêm mùng 4 tháng giêng năm 1919. Lời cuối cùng của ông là: "Làm ơn tắt đèn cho".
__________________
PHONG LINH
Reply With Quote
Reply

Thread Tools

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off

Forum Jump


All times are GMT -7. The time now is 07:06 PM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.7
Copyright ©2000 - 2017, vBulletin Solutions, Inc.
Người Việt Năm Châu