Welcome to Người Việt Năm Châu. Chúc tất cả Anh Chị Em một ngày b́nh yên, may mắn và hạnh phúc... XIN ĐỪNG QUÊN: Hơn 80 triệu đồng bào VN đang bị nhốt trong cái nhà tù lớn mệnh danh XHCNVN của lũ quốc tặc Việt cộng ...

Trang Chính Diễn Đàn About NVNC Một Góc Phố Một Góc Phố US MGP phpBB Lư Lạc Long
Pḥng Phát Thanh VietKey Online NVNC Làm Quen Cyber Cafe Văn Học Nghệ Thuật Xă Hội Tin Tức Thời Sự
Go Back   NGƯỜI VIỆT NĂM CHÂU > 2. VĂN HỌC > Kư Ức Về 1 Quê Hương > Đi T́m Tự Do & Góp Nhặt Tâm T́nh
FAQ Members List Calendar Mark Forums Read

Đi T́m Tự Do & Góp Nhặt Tâm T́nh Những bài viết về 2 cuộc di tản lớn nhất của người dân VN: Di cư 1954 từ Bắc vào Nam và Hành Tŕnh Biển Đông.... đầy máu và nước mắt

Reply
 
Thread Tools
  #1  
Old 07-23-2009, 07:56 PM
SilverBullet's Avatar
SilverBullet SilverBullet is offline
Mightier Than Sword
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 1,958
Thanks: 2
Thanked 13 Times in 11 Posts
Default Kuku, nhật kư thăm lại ḥn đảo tỵ nạn ở Nam Dương

Kuku, nhật kư thăm lại ḥn đảo tỵ nạn ở Nam Dương (Phần 1)

Lưu Dân


Xem thêm h́nh ảnh của chuyến đi KuKu ở đây: Kuku trip

Như một cơn "chửa trâu" dai dẳng và đầy thử thách, chuyến đi "Về Bến Tự Do" thăm lại ḥn đảo tỵ nạn Kuku ở Nam Dương (từ 10 đến 18.04.2009) đă thai nghén ṛng ră gần 4 năm mới vượt cạn được. Có lẽ, nó cũng "chọn lựa" ngày lành tháng tốt mới kết tụ đủ duyên để khai hoa nở nhụy. Mà đúng boong, năm nay chả là năm Con Trâu c̣n ǵ. Và thời điểm tháng Tư cũng gợi nhớ về những biến cố đau buồn của đất nước cũng như nhắc nhở về lư do ra đi của hàng triệu người Việt Nam ly hương...

Đây là chuyến đi lần thứ 7 kể từ năm 2005 do Văn khố Thuyền nhân Việt Nam (www.vktnvn.com) tổ chức để cám ơn các quốc gia tạm cư đă giúp đỡ người tỵ nạn, để tưởng niệm đồng bào nằm lại trên xứ lạ biển xa, để trùng tu di tích và thu thập tài liệu cho các thế hệ mai sau về cuộc di cư bi tráng nhất trong lịch sử nhân loại vào cuối thế kỷ 20...

V́ là lần đầu nên chuyến đi Kuku mang tính "ḍ đường", không được phổ biến rộng răi trong cộng đồng người Việt hải ngoại v́ ban tổ chức e ngại các yếu tố an toàn và an ninh. Mọi người tham dự đều chấp nhận sự may rủi - thậm chí là mạo hiểm - trong chuyến đi; kể cả tai nạn, thời tiết hoặc bệnh tật dọc đường. Tất cả chỉ v́ bụng dạ cồn cào, v́ sự thôi thúc kỳ lạ của Kuku.

Nhưng dù "mang nặng" như vậy nhưng Kuku lại... "đẻ không đau"! Trái lại là khác, rất "mẹ tṛn con vuông" với những cơ duyên gặp gỡ kỳ thú và sự huyền nhiệm không thể giải thích được theo lẽ thường. Nó đă trở thành một chuyến đi để đời với những kỷ niệm vui nhộn và xúc động, có cả tiếng cười và nước mắt, của mọi thành viên trong đoàn...

Ngày 1 (10.04/ 2009 Singapore - Tanjung Pinang): Trên đường... tập kết!
Từ tối hôm trước, các nhóm (trừ 4 người từ Pháp đi theo lộ tŕnh riêng và đă đến trước Tanjung Pinang ở Nam Dương) từ Úc, Mỹ, Đức, Thụy Điển và Việt Nam đă lần lượt "tập kết" tại điểm hẹn, một khách sạn b́nh dân nhưng tương đối sạch sẽ trong khu Geylang ở Singapore, một... xóm b́nh khang khá nhộn nhịp về đêm.

Ông Trần Đông, trưởng đoàn của chuyến đi, cứ tíu tít như gà mắc đẻ. Dù đă đến Sing (theo cách gọi tắt của người Việt trong nước hiện nay) từ hôm trước để "trải nệm" địa điểm hậu cần nhưng cả trăm việc không tên dường như vẫn thúc hối được giải quyết v́ lần này VKTNVN tự thân lo liệu mọi thứ cho... đỡ tốn tiền, chứ không "chơi sang" nhờ đến các công ty du lịch địa phương như những lần trước. Điểm đón và giờ đến phi trường của nhiều thành viên trong đoàn lại cách nhau khá xa nên "Trần Lăo Gia" (chúng tôi thân mật gọi anh Trưởng đoàn như vậy) phải "trưng dụng tại chỗ" lực lượng nhân sự sẵn có: ai đến trước phải đi rước người đến sau! Cũng may, luộm thuộm một chút nhưng chẳng có mống nào bị lạc!

Màn tẩy trần "chào băi" được nhanh chóng sắp xếp. Mấy chiếc taxi lao vút vào ánh đèn đêm lấp lánh, mang theo "đám du khách quốc tế không giống ai" đến Newton, khu ăn tối nổi tiếng ngon và rẻ với đầy đủ món nhậu nghêu, ṣ, ốc, hến và hàng trăm thứ hầm bà lằng khác... Nào, "dzô" một phát cho đẹp coi, trước lạ sau quen! Mọi người nâng ly kết thân, lại c̣n kẹp nách hai chai cognac đi đường v́ nghe đâu rằng bên đất nước Hồi giáo Nam Dương thứ chất cay này rất khó kiếm.

Sở dĩ ban tổ chức chọn lựa địa điểm Geylang (sau khi so sánh thiệt hơn với các chuyến đi trước) là v́ những lư do thực tế: giá cả mềm mại, di chuyển thuận tiện, hàng quán gần kề và - có lẽ quan trọng nhất - là cơ hội để những người trong đoàn tự thân trải nghiệm mặt trái trong đời sống của đất nước được mệnh danh là "mini-superstate" (tiểu siêu quốc) này. Ừ, cũng nên chứ, đi một ngày đàng mà chẳng học được một sàng khôn nào th́ hóa ra... chẳng phí lắm ru!

Ồ, nơi này có nhiều chuyện thú vị đáng kể lắm, các bạn ạ. Trước hết, đó là cú sốc mở màn đối với những người mới tham dự lần đầu, nhất là các bà các cô "nhạy cảm" với... dịch vụ đèn đỏ. Mấy trự đàn ông bị quản lư chặt hơn cửa hàng quốc doanh kiểm soát sổ gạo. May mà ở Sing khá lịch sự, không có cảnh chèo kéo ngoài đường nên cũng... không đến nỗi nào. Tuy vậy, hai cô trong đoàn trên đường về lại khách sạn sau buổi ăn tối vẫn "được" mấy chàng Ấn Độ hay Mă Lai ǵ đó để mắt rủ rê...

Sinh hoạt ở khu phố này càng về khuya càng... tưng bừng. Hàng chục - không, phải là hàng trăm mới chính xác - cô gái ăn sương (và cả những chàng "lady boy") son phấn diêm dúa lượn lờ dọc theo các khách sạn, trong đường hẻm, dưới cột đèn... Điện thoại di động của họ cứ reo liên tục và, một số khá đông, í ới gọi nhau bằng... tiếng Việt. Ra vậy, thanh niên "thế hệ Hồ Chí Minh" không c̣n đất sống trong nước đến phải "xuất khẩu lao động" thế này. Những chuyện về "cô dâu Việt ở Sing" hoặc những đường giây công an Việt cộng buôn gái măi dâm ra nước ngoài đang diễn ra ngay trước mắt chúng tôi, trần trụi và phũ phàng. Nghĩ vừa buồn vừa giận. Mấy ly bia tẩy trần hồi đầu hôm đă không đủ đô để đè xuống nỗi nhục của cảnh tha phương cầu thực kiểu này trong giấc ngủ chập chờn...

Buổi sáng, chầu cà-phê vỉa hè (nói thế cho giống... bụi đời, chứ thật ra chúng tôi ngồi trong một quán lề đường đàng hoàng) làm cho mọi người tỉnh táo hẳn sau chuyến bay dài và cả chục đĩa nghêu ṣ đêm trước. Chưa dứt màn tán gẫu vụn vặt, Trần Lăo Gia đă thông báo một tin... hổng muốn nghe: trục trặc giờ phà sang Nam Dương, phải "ngồi đồng" ở Sing đến chiều. Ừ, cũng chẳng sao. Lại có dịp ngắm nh́n phố phường của Hải cảng Sư tử.

Một sáng kiến chợt lóe lên: Sao ḿnh không làm một cú City Tour (Ḷng ṿng Thành phố) nhỉ, tội ǵ phải bó cẳng ngồi đây? Trong chương tŕnh, mọi sinh hoạt được sắp xếp khít khao đến từng giờ nên không có một chỗ trống nào cho mục thư giăn như thế. Vậy, a-lê-hấp, biến khó khăn thành thuận lợi đi chứ!

Buổi ăn trưa, thay v́ dự định ở Nam Dương, được đặt bàn cấp tốc tại một nhà hàng gần khách sạn để o bế bao tử của "thập bát anh hào" (v́ ai nấy đều... ăn khỏe như trâu) trước khi 18 trự (không kể 4 mạng đă "cắm dùi" trước bên Nam Dương) chất lên chiếc mini-bus thuê bao trực chỉ hướng trung tâm thành phố.

Ông nhà báo Lưu Dân (mà mọi người cứ "vô tư" bỏ dấu sai thành... Lựu Đạn) t́nh nguyện làm hướng dẫn viên du lịch v́ đă nhiều lần đến Singapore. Chiếc xe - với chàng tài xế nói tiếng Anh khá sơi - đưa chúng tôi đến các thắng cảnh nổi tiếng, như: Nhà hát Sầu Riêng (v́ h́nh dáng của nó trông giống loại trái cây này), Viện Bảo tàng Nghệ thuật Á châu (khi ấy đang có cuộc triển lăm về các phẩm vật triều cống của các nước chư hầu cho Trung Hoa trong những thế kỷ trước), Công viên Merlion Park (nơi đặt bức tượng đầu sư tử đuôi cá đang phun nước, biểu tượng của Singapore) và Mount Faber (đỉnh núi có đường giây cáp treo đến đảo du lịch Sentosa)...

Âm thanh và ánh sáng từ các chiếc máy h́nh đủ loại, đủ kiểu cứ vang lên tí tách ở mỗi nơi dừng lại. Kẻ đứng tạo dáng, người khom bấm máy rộn cả góc trời khiến ông trưởng đoàn phát hoảng la toáng lên: "Nè, chừa memory cho h́nh ảnh Kuku nghen. Chuyến đi chưa thực sự bắt đầu đâu, bà con ơi!" Thế chứ, tưởng trục trặc hóa ra lại hay, và đáng đồng tiền bát gạo. Chuyến City Tour đă "gỡ" lại được phần tư vé bay rồi đấy! Đến 4 giờ chiều, mọi người lên tàu tốc hành sang Nam Dương mà câu chuyện vẫn râm ran chưa dứt.

Bấy giờ, một số người mới... thấm mệt. Vài nam tử và dăm cô nương đă riu ríu đôi mi, quẹo đầu lên vai người bên cạnh (có kẻ c̣n ngáy thành tiếng nữa, trời ạ) khi chiếc Penguine II tách bến rời Sing rẽ sóng đến Tanjung Pinang. Các chuyến bay dài, giờ giấc thay đổi và sự vui chơi hết ḿnh đă bắt đầu... phát huy tác dụng. Chiếc đồng hồ sinh học trong cơ thể của họ đang báo hiệu hết pin, cần được sạc lại. Mà dễ ǵ chống lại được cơn buồn ngủ khi gió mát cứ mơn man, sóng biển cứ vỗ về và những người bạn đồng hành khác cứ gật gù... cầu nguyện ḥa b́nh.

Vậy mà vẫn có người tỉnh queo! Cậu bạn trẻ Phạm Đ́nh Chấn từ Munich (quên hỏi có bà con ǵ với nhạc sĩ Phạm Đ́nh Chương không), một chuyên viên tư vấn trong công ty tái bảo hiểm nổi tiếng thế giới của Đức, vẫn chuyên chú giở từng trang kinh Phật lâm râm tụng niệm trong suốt chặng đường. Gọi là "cậu" cho thân t́nh, chứ thật ra Chấn đă từng ở Kuku cách đây 27 năm khi c̣n là một đứa bé 9-10 tuổi (cứ tính ra th́ biết tuổi, kẻ viết bài này vốn dốt toán). Nh́n Chấn, có lẽ bạn khó tưởng tượng được một người thuộc "thế hệ trẻ" có tŕnh độ và năng lực cao, trưởng thành và làm việc trong xă hội Âu Tây (Pháp và Đức) nhưng làu thông tiếng mẹ đẻ, tinh tường kinh kệ và gắn bó với sinh hoạt cộng đồng người Việt ở nơi cư ngụ như thế!

(Cái xui nhất của chàng này - ôi, cơ trời sắp đặt - là ở chung pḥng và phải chịu đựng tiếng ngáy "sư tử hống" của ông già Lựu Đạn nhiều ngày trong chuyến đi. Thật ra, cả hai có thể lập nên "ban hợp xướng" rất ăn nhịp trong bản trường ca kéo gỗ!)
Vậy mà vẫn có người tỉnh queo! Như anh bạn muối tiêu Văn Nam (cùng đi với "một nửa của minh" Xuân Hương) từ Munich, Đức, mắt nhắm nghiền vai lắc lư theo nhịp sóng, hai tay bịt tai không phải v́ tiếng lâm râm đọc kinh của người bên cạnh mà có lẽ v́ không chịu được âm thanh rầm ŕ của máy tàu. Như nàng Oanh Oanh (nghe tên cứ như là... tài tử Hồng Kông) từ Perth, Úc, tỉ tê không hết chuyện với em gái Mimi Đài-Trang (cô út của đoàn, "điệu" hết biết luôn!) từ California, Mỹ, lâu ngày mới gặp lại. Như chàng lăng tử Anh Huy (lần thứ nh́ tham dự chuyến đi Về Bến Tự Do) từ Georgia, Mỹ, cứ đứng trên boong ngắm măi những lượn sóng trắng xóa mà hồn để tận đâu đâu...

Vậy mà cũng vẫn c̣n người tỉnh queo! Trần Lăo Gia và cậu út Tuấn Hùng (từ Goteborg, Thụy Điển, lần thứ ba cùng đi với đoàn VKTNVN) nhón gót từ trong ra ngoài tàu, nhẹ nhàng bấm những tấm h́nh của từng người trong tư thế "rất thoải mái" để mong... bán lại kiếm chút cháo. Có ai từng nh́n thấy ḿnh trợn mắt hoặc há mồm trong khi ngủ chưa nhỉ? Cứ đến năn nỉ hai ông phó nḥm ấy để khỏi bị đưa h́nh lên Net cho cả thế giới chiêm ngưỡng.

Và dĩ nhiên, cũng c̣n kẻ viết bài này, ráng nhướng mắt đấu vật với cơn buồn ngủ để ghi chép "Nhật kư dọc đường".

Sau gần 2 tiếng bập bềnh trên biển, chiếc Penguine II cập cảng Tanjung Pinang vừa lúc mặt trời cũng uể oải giă từ một ngày. Chúng tôi nhận ra ngay sự khác biệt rơ rệt trong phong cách làm ăn giữa nước vừa đi và nước mới đến: ở Sing mọi sinh hoạt đều rất trật tự và quy củ, trong khi ở Nam Dương rất lộn xộn và xô bồ. Mọi người được nhắc nhở phải để ư đến hành lư của ḿnh v́ các tay bốc vác cứ giật lấy những chiếc va-ly hoặc túi xách từ khoang tàu để đưa lên xe đẩy của họ, y hệt như quang cảnh tại bến xe đ̣ ở Việt Nam. Tuy không có sự mất mát hay căi cọ giữa chúng tôi với cánh phu phà đó, nhưng cách giành giật như vậy đă tạo ấn tượng chẳng "vui ḷng khách đến" tí nào cả.

Màn "thủ tục đầu tiên" trên đất Nam Dương đă... gặp ngay trục trặc: dù Ban tổ chức - qua Công ty du lịch địa phương - đă đóng lệ phí visa nhập cảnh 25USD cho mọi người trong đoàn nhưng thời hạn chúng tôi được phép lưu trú trên quốc gia này chỉ có 7 ngày, trong khi chương tŕnh dự trù kéo dài đến 8 ngày. Thế là mỗi người phải móc ra 25USD nữa, dù chỉ "ở nán" thêm một ngày. Ai đó bỗng dưng hát một câu... vô duyên (mà đúng phóc t́nh cảnh dỡ mếu dỡ cười của chúng tôi lúc đó): "Lỡ leo rồi, làm sao neo được em ơi..." Thật ra, đó là... luật, chứ chẳng phải một khoản "hoạnh tài" nào của nhân viên kiểm soát di trú, nhưng cứ trông khuôn mặt méo xẹo của anh Trưởng đoàn mà... thấy thương!

Rồi "chuyện nhỏ" cũng qua, hai chiếc xe bus tương đối tiện nghi đưa chúng tôi ḷng ṿng qua các khu phố chính của Tanjung Pinang, thành phố lớn thứ nh́ của đặc khu Riau sau Batam, lúc người dân bắt đầu đời sống về đêm. Hàng quán sáng trưng, xe cộ dập d́u, âm thanh rộn ràng như những thành phố Á châu khác - cũng mang nét xô bồ nhưng thân thuộc như bạn đang ở Manila, Bangkok hay Kuala Lumpur. Vừa lúc chúng tôi cảm thấy "ông-mê" v́ những ổ gà trên chặng đường ngoằn ngoèo hơn nửa giờ, hai chiếc xe bus đậu lại trước bậc thềm của một khách sạn nguy nga trên đồi cao: Hotel Comfort, nơi được coi là "chỗ ngủ êm ái nhất của thành phố".

Từ trong lobby, băng... "tứ nhân bang" từ Paris, Pháp (gồm đôi niên trưởng Tôn Thất Vinh - Vân Hải và cặp trung niên Đ́nh Chung - Ngọc Thúy đă đến cắm dùi ở đây từ hôm trước) ùa ra chào đón, môi cười kéo dài đến tận mang tai! Dù chưa diện kiến tận mặt bao giờ nhưng ai cũng cảm thấy gần gũi và quen thân... từ kiếp trước. Chả ǵ, cả tháng trời chit-chat với nhau qua email, những chân dung mùa hạ mùa thu đă khoe ra khắp thiên hạ, cũng đủ tay bắt mặt mừng!

Lại màn nhận pḥng cấp tốc như nhà binh, rửa sơ khuôn mặt nhớm nháp bụi đường (chỉ được phép 5 phút) trước khi tụ lại buổi sinh hoạt chung đầu tiên có mặt đầy đủ cả đoàn (gồm 22 người: 8 Úc, 4 Mỹ, 4 Pháp, 3 Đức, 2 Việt Nam và 1 Thụy Điển). Dưới ánh sáng của mấy ngọn đèn pha bên hồ bơi êm ả phía sau khách sạn, các món đặc sản Nam Dương được dọn ra ê hề (bánh phồng cá, chả cuốn cá, cà-ri cá, canh chua cá... và cả chục món cá khác), chuyện nổ như bắp rang, các món quà giao lưu được chuyền tay nhau và các chiếc máy ảnh lại tí tách, tí tách...

Có người bấm tay tính nhẩm: "Ở khách sạn thế này, ăn uống thế này, gỡ được thêm phần tư vé bay nữa, vị chi đáng nửa tiền đường rồi, mà chỉ mới một ngày!"
Ôi, sau này tôi mới "ngộ", người ấy "có biết đâu niềm vui đang nằm trong thiên tai" v́ gần suốt chặng đường c̣n lại chúng tôi chẳng những không được ở "khách sạn thế này" nhưng lại phải "ăn uống thế này" đến... phát ngán!

Ngày 2 (11.04 Terempah - Kuku): Đoạn đường... chiến binh!
Trước khi đến Tanjung Pinang, chúng tôi đă được Edi Surbakti, sếp của một công ty du lịch ở Batam và là người hướng dẫn đoàn, báo trước về một "trục trặc ngoài chương tŕnh" khác: chiếc tàu khách hai tuần một chuyến từ Tanjung Pinang đến Letung mà chúng tôi đă đặt chỗ first-class cả tháng trước đang phải... nằm ụ để sửa chữa. Do vậy, thay v́ cưỡi thuyền lướt sóng, chúng tôi sẽ đi mây về gió bằng chim sắt, không đến thẳng "hậu cứ Letung" mà phải bay ṿng đến Matak rồi sau đó mới đáp tàu khách sang Terempah và ca-nô tốc hành đến Letung vào ngày hôm sau.
Do sự thay đổi lộ tŕnh, mọi người được "gợi ư" (thực sự là... bắt buộc) chỉ mang theo "trang bị tác chiến" đủ cho 4 ngày mà thôi; như giấy tờ tùy thân, quần áo lội rừng, thuốc men cá nhân, lễ vật cầu nguyện và... mấy chai Martell pḥng hờ. Phần hành lư c̣n lại phải gửi ở khách sạn Tanjung Pinang, ṿng về tính sau.

Chuyện nhỏ, chẳng ai thắc mắc về sự thay đổi phương tiện di chuyển và chuẩn bị hành trang này, cho đến khi...Dù Trần Lăo Gia nhiều lần nhắc nhở về "kỷ luật giờ giấc" trong sinh hoạt tập thể nhưng dường như thói quen lề mề là một cố tật khó bỏ của... người Việt đáng yêu! Buổi ăn sáng dự trù 1 giờ được kéo giăn gấp đôi, có lẽ v́ món cháo trắng thanh đạm nhưng ngon miệng với cá cơm kho và hột vịt muối đă níu chân chúng tôi thêm một tua nữa! Bù lại, khi Edi toét c̣i lên xe th́ mọi người đều... đâu vào đấy! Màn điểm danh nhanh gọn "Số 1, có! Số 2, có!... Số 22, có! Đủ, hồn ai nấy giữ nhé. Lên đường!" Lệnh lạc cứ như là hành quân. Mà quả vậy, chúng tôi sắp đi qua một "đoạn đường chiến binh" (hiểu theo nghĩa kiên nhẫn, chịu đựng và... không càm ràm) mà hầu như chẳng ai biết trước...

Hai chiếc xe bus hôm qua lại đưa chúng tôi ra phi trường Tanjung Pinang. Tiết mục thử thách sơ khởi bắt đầu: chờ đợi! Như nhiều hăng hàng không nội địa ở các quốc gia khác, chuyến bay của Air Riau đến Matak bị trễ đến gần 2 tiếng đồng hồ. Lại một chuyện "ngoài chương tŕnh" khiến anh chàng hướng dẫn viên Edi xuề x̣a vui tính cũng phát cáu. Buổi cơm trưa tay cầm (lại bánh phồng cá, chả cá và... thêm cái đùi gà) được đưa vào tận pḥng đợi cho mọi người. Dường như tất cả chúng tôi đều "thi đậu" màn thử thách kiên nhẫn này.

Phi trường Tanjung Pinang thoạt trông cũng giống như các phi trường Đà Nẵng, Huế hoặc Cần Thơ của Việt Nam trước năm 1975, vẫn mang một nét vừa gần gũi vừa... nhà quê. Mọi thủ tục giấy tờ và khám xét hành lư đều làm bằng tay nên tốc độ khá chậm chạp. Rất may, chúng tôi đă được thu xếp trước nên đă tránh được sự phiền toái này. Mấy khi ở tỉnh lẻ lại có một nhóm "du khách quốc tế" đông đảo thế!

Vài chàng lấm tấm muối tiêu (và cả mấy trự "lơ thơ tơ liễu buông mành" trước trán nữa) "tranh thủ" vào một câu lạc bộ nhỏ xíu trong góc pḥng chờ đợi, cà-phê thuốc lá và... tán gẫu với cô nhân viên thông tin khá xinh. Họ nói chuyện bằng miệng - với những chữ Nam Dương vừa học được "Salamat pagi" (Chào bạn), "Terimakasi" (Cám ơn)... - và bằng tay, v́ vốn từ vựng của đôi bên chỉ đến bấy nhiêu. Bỗng nhớ Pleiku lạ lùng, "may mà có em đời c̣n dễ thương..."

Cà-phê ở phi trường - cũng như ở các hàng quán mà chúng tôi có dịp dừng chân trên đất Nam Dương - là... cực kỳ dở! (Ấy chết, chỉ là theo khẩu vị của kẻ viết bài này thôi. Nói phứa lên oan mạng có ngày!). Người bán cứ "vô tư" xúc hai muỗng nhóc cà-phê xay sẵn, đổ nước sôi vào, quậy tưng lên cho ra màu và trút thêm hai muỗng đường nữa là... xong, bất chấp người mua thích uống theo gout nào. Bạn phải chờ xác cà-phê lắng xuống, hớp nhẹ phần trên ngọt như chè và lim dim đến cả phút sau mới thấy... chất cafeine.
C̣n thuốc lá th́... khỏi nói. Dân Nam Dương ph́ phèo như khói tàu. Họ thích hút loại thuốc Garam tẩm mùi đinh hương thơm phức và ngọt lịm, nổ tí tách theo từng hơi rít vào. Không gian nồng nồng cái mùi đặc biệt này nhưng dường như chẳng thấy ai tỏ vẻ khó chịu hoặc phàn nàn. Ở đâu họ cũng có thể hút thuốc thoải mái - trong khách sạn, nhà hàng, pḥng họp... (có lẽ chỉ trừ trên máy bay). Mấy ông nghiền thuốc lá trong đoàn có vẻ khoái chí về quyền tự do cá nhân đó, chả bù với sự nghiêm cấm gắt gao tại những quốc gia họ đang sinh sống!

(Một ghi nhận nhỏ, thú vị: Khi làm thủ tục kiểm soát hành lư ở phi trường, tất cả hộp quẹt gas đều bị tịch thu v́ lư do an toàn, nhưng lúc vào bên trong pḥng đợi ai cũng móc ra... một cái khác để mồi thuốc lá. Hay thiệt!)

Cuối cùng, chiếc phi cơ Fokker 27 hai cánh quạt từ thời... Đệ nhị Thế chiến cũng đă đến. Cùng với các hành khách địa phương, chúng tôi (với 3 nhân viên tháp tùng của công ty du lịch) lục tục... đi bộ ra phi đạo. Nh́n chiếc máy bay, cả đoàn đều... thót ruột, nhưng sự lo ngại đó tan biến ngay bởi lời trấn an đầy thẩm quyền của niên trưởng Vinh, một cựu phi công dân sự quốc tế từng có 40 năm kinh nghiệm trong nghề: "Loại máy bay này tuy cũ nhưng an toàn lắm, không sao đâu!" Lại câu hát vô duyên của anh chàng mắc dịch vang lên: "Lỡ leo rồi, làm sao neo được em ơi..."
Sự uể oải của mọi người dường như được "massage" tỉnh táo ngay bởi thái độ lịch sự của viên phi công và nụ cười duyên dáng của hai cô tiếp viên. Cậu út Tuấn Hùng bị hớp hồn từ lúc đó - và chẳng biết bằng cách nào, chàng trai độc thân 35 tuổi từ xứ Bắc Âu này đă "dụ" được cả hai mỹ nhân Nam Dương cho số phone và chụp chung h́nh với họ trong cockpit. Bái phục, "hậu sinh... khả ố" có khác!

Chuyến bay ngắn, chỉ trên dưới một giờ. Thời tiết khá tốt, phong cảnh bên dưới đẹp như tranh vẽ, trùng điệp những cánh rừng nhiệt đới xanh ngắt trên những hải đảo chập chùng không dứt. Chúng tôi thay phiên nhau ngồi bên các khung cửa sổ để quay phim và chụp h́nh, một phần v́ không cưỡng lại được sức thu hút của vẻ đẹp thiên nhiên và phần khác, để "mở cửa xin chút... gió" v́ hệ thống điều ḥa bên trong có lẽ không hạ nhiệt nổi những trận cười nghiêng ngă từ các mẩu chuyện tiếu lâm râm ran suốt chuyến bay. Các hành khách Nam Dương đi cùng dường như bị truyền nhiễm niềm vui của chúng tôi nên họ cũng vỗ tay tán thưởng hoặc cười theo.

(Một ghi nhận nữa, cũng thú vị: Khi phi cơ đáp xuống đường băng, mọi hành khách đều đồng loạt vỗ tay hoan nghênh phi hành đoàn đă thực hiện một... chuyến bay an toàn. Cả hai lần chúng tôi bay ở Nam Dương đều như thế. Vậy, mỗi khi có dịp đáp phi cơ nội địa ở nước này, bạn hăy nhớ thủ tục đó nhé! Không nghe tiếng vỗ tay t ức là... có chuyện rồi!)

Đến Matak, sau thủ tục gọn nhẹ, đoàn "du khách quốc tế" chúng tôi được đón tiếp niềm nở tại phi trường bởi chính... "chúa đảo". Tôi cứ đoán bừa vị sĩ quan cao lớn, sắc phục chỉnh tề và có nụ cười dễ mến đó là... Đại úy, v́ ông mang lon 3 mai vàng trên cổ áo, y chang như cấp bậc trong quân đội VNCH ngày xưa. Rồi bắt tay bắt chân, rồi chụp h́nh kỷ niệm, rồi "Selamat Datang" và "Terimakasi"... búa xua trước khi chúng tôi chất lên 2 xe mini-bus ra bến tàu khách cách đó khoảng 10 phút.

Bến tàu khách Matak tuyệt đẹp, nhà sàn sát mí nước, biển và rừng trùng điệp xanh ngắt. Chúng tôi đi cùng khoảng 50 người dân địa phương (cộng với xe gắn máy, gà vịt, ḿ gói và đủ thứ hàng tạp hóa khác) đến Terempah, giống hệt các chuyến đ̣ ngang ở miền Tây Nam Bộ của quê hương nhưng trật tự và an toàn hơn. Nhiều người trong đoàn cũng cảm nhận một niềm vui nhẹ nhàng khi nh́n thấy một nhà sư Phật giáo trung niên đi cùng trên tàu. Ở đất nước Hồi giáo này, nhà thờ Công giáo hay chùa chiền Phật giáo là những h́nh ảnh hiếm thấy. Vạt áo cà sa màu vàng nghệ và khuôn mặt thư thái của vị sư nổi bật trên nền trời trong xanh giữa ngổn ngang những tất bật thế sự trên chuyến tàu hôm ấy đă mang đến một cảm giác yên b́nh và may mắn. Chúng tôi nào biết đó là cái duyên đầu tiên của ḿnh trong chuyến đi t́m về kỷ niệm này...

Tàu càng xa bờ mọi người càng ngẩn ngơ trước vẻ đẹp kỳ vĩ của thiên nhiên. Ở đất nước có hơn 17 ngàn ḥn đảo này, người ta có thể bắt gặp bất cứ nơi đâu các băi cát vàng tươi, các vách núi cheo leo, các hang động hiểm trở và các làng chài hiền ḥa muôn thuở... Nhưng có lẽ ấn tượng đập mạnh nhất vào mắt chúng tôi khi tàu đến gần Terempah là ngôi chùa chênh vênh trên sườn núi, mái ngói đỏ au như một chấm son tươi trên nền đá xám dăi dầu. Nơi đây, vào buổi tối hôm đó, chúng tôi đến lễ Phật và gặp lại vị sư đi cùng tàu, người chỉ thỉnh thoảng từ Matak sang Terempah một lần nhân những ngày vía lớn.

Đến Terempah, chẳng có "quan chức" nào... ân cần tiếp đón cả, ngoài một bầy con nít tíu tít reo ḥ và những ánh mắt hiếu kỳ từ các hàng quán bên cầu tàu. Ừ, như thế dễ chịu hơn, chứ khách sáo hoài cũng mệt. Vậy mà chúng tôi vẫn nh́n thấy một tấm băng-rôn lớn giăng ngay trên đường phố chính của đảo "Chào mừng đoàn du khách đến thăm Kuku".

(C̣n nữa)
__________________

A straightforward solution gives extreme effectiveness.
Reply With Quote
  #2  
Old 07-23-2009, 08:02 PM
SilverBullet's Avatar
SilverBullet SilverBullet is offline
Mightier Than Sword
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 1,958
Thanks: 2
Thanked 13 Times in 11 Posts
Default Re: Kuku, nhật kư thăm lại ḥn đảo tỵ nạn ở Nam Dương

Kuku, nhật kư thăm lại ḥn đảo tỵ nạn ở Nam Dương (Phần 2)


Lưu Dân


<= Một ngôi mộ trong khoảng 2000 ngội mộ của thuyền nhân ở đảo Kuku

Chúng tôi trọ ở 2 khách sạn "bảnh nhất" trên đảo, ngay cạnh bến tàu, có máy lạnh và nước nóng, nhưng vẫn bánh phồng cá, cà-ri cá, canh chua cá... Có một chút "cải thiện" trong thực đơn: ḿ xào đồ biển với ớt và cơm chiên đồ biển với ớt, hai món đưa cay mà chúng tôi thân ái làm quen suốt mấy ngày sau đó. (Nhớ lại, thật tội nghiệp cho nhóm từ Âu châu, tôm cua ê hề mà cứ ṿi... rau muống! Rơ nghèo!)

Dù được biết nơi đây sẽ phát triển mạnh trong tương lai gần v́ các công ty dầu khí quốc tế vừa quyết định thiết lập nhiều cơ sở tiếp vận và sản xuất, nhưng Terempah bây giờ vẫn... đi dăm phút đă về chốn cũ. "Rốn" đảo là một con đường dọc ghềnh đá, được lát xi-măng khá sạch, có nhiều hàng quán, đền thờ Hồi giáo, cơ sở hành chánh - quân sự (hầu như Nam Dương ở đâu cũng thấy... trại lính!). Người dân địa phương chất phác, thân thiện. Họ không t́m cách "nạo" những du khách cả đời mới đến đây một lần khi chúng tôi mua trái cây, uống cà-phê hoặc kêu mồi nhậu. Cũng có vài người la cà đến làm quen, kể lại những chuyện về người tỵ nạn Việt Nam từng ghé lại đây hồi... thế kỷ trước. Họ cho biết có nhiều ngôi mộ thuyền nhân Việt Nam phía trên đồi và sẵn sàng hướng dẫn chúng tôi đến đó. V́ không có đủ thời gian, chúng tôi hẹn lượt về (3 ngày sau) sẽ đi thăm.

Buổi tối, mới hơn 9 giờ mà trên đảo đă vắng teo. Băng "quậy" trong đoàn (gồm các trự trung niên khó ngủ, kể cả người viết bài này) cởi trần ra cầu tàu hóng mát và (hy vọng) t́m... vài lon bia giải khát. Mà t́m được thật, các bạn ạ. Thứ xịn nữa chứ: bia lon Tiger và Heineken ướp lạnh! Giá cả cũng khá mềm: tính ra chỉ khoảng hơn 1 đô Úc một lon. Từ chiều, Tuấn Hùng đă rảo một ṿng trên đảo và chấm tọa độ một tiệm tạp hóa có bán bia. Thế là cứ đến gơ cửa, làm dấu, trả tiền và biến ra cầu tàu cùng với hai xâu bia ṭng teng... "Cậu út" giỏi thật, đến đất lạ quê người heo hút mà vẫn moi ra được thứ "nhu yếu phẩm" này, chỉ tiếc đồ mồi hơi hẻo: chỉ bịch lạc rang và... vài cái bánh phồng cá (lạ thay, lúc ấy thật ngon!).

Có bia th́ có... nhạc. Tuy vài lon chưa đủ liều để biểu diễn "tài năng chưa một lần chớm nở" nhưng đă có người tính qua mặt Duy Khánh, Nhật Trường, Chế Linh... "Chung vui đêm này cho trọn t́nh yêu thương...", "Chuyện cô sinh viên hay buồn, thường nhắc nhở những chiến công...", "Ḿnh về thành phố đây rồi, chốn ăn chốn chơi, lạ mặt người..." Những bài hát Việt Nam cất lên vừa đủ nghe, ḥa cùng tiếng sóng vỗ nhịp rập rềnh từ dưới chân cầu tàu, giữa vùng trời vắng lặng xa lạ này, mang âm điệu hoài hương man mác, buồn buồn...

Và cũng ở Terempah, vào sáng hôm sau trước khi lên đường đi Letung, chúng tôi cũng đă gặp những đồng bào của ḿnh trong một hoàn cảnh trớ trêu...

Ngày 3 (12.04 Letung - Kuku): Trời quen đất lạ…

"Số 1, có! Số 2, có!... Số 22, có! Đủ rồi. Nhổ neo, bác tài!"

Chiếc ca-nô tốc hành tách bến, phóng ra khơi như một mũi tên xé nước, mang theo đoàn người hành hương trở về con đường kư ức. Mọi người đă tươi tỉnh hẳn sau một đêm sạc pin đầy đủ ở khách sạn bến tàu Terempah và chầu điểm tâm ḿ xào ớt. Chất cay tươi này (để phân biệt với thứ "chất cay lỏng" mà đám các ông cắt củm mang theo như mèo giấu... của hiếm) dường như đă tô thêm một tí màu hồng trên đôi má của các bà các cô để bù lại khuôn mặt "người t́nh không chân dung" trên đoạn đường chiến binh hôm qua.

Tháng Ba bà già đi biển có khác! Không một cơn gió mạnh hoặc một gợn sóng lăn tăn nào suốt cả tiếng đồng hồ đi tàu. Mặt nước êm và phẳng như một miếng thạch trong veo khổng lồ. Nếu không có âm thanh động cơ, tiếng cười đùa của hành khách và vệt sóng trắng xóa sau đuôi tàu, bạn sẽ không bị coi là... kẻ "té giếng" nếu ngỡ ḿnh đang là Lưu Thần - Nguyễn Triệu đi lạc vào cơi thiên thai v́ khung cảnh tĩnh mịch và diễm ảo của vùng quần đảo này.

Chiếc ca-nô tốc hành (với khoảng 30 chỗ ngồi và dụng cụ an toàn hải hành đầy đủ, do tài công và hoa tiêu địa phương dẫn đường), được thuê bao riêng cho chúng tôi suốt chặng đường Terempah - Letung - Kuku - Terempah - Matak trong 3 ngày sau đó. Phương tiện này khá thuận tiện v́ chúng tôi cần phải di chuyển liên tục đến nhiều địa điểm khác nhau trong vùng.

"Letung kia rồi!" Trần Lăo Gia chỉ tay về một ḥn đảo phía xa sau khi được hoa tiêu thông báo sắp đến nơi. Thật ra, anh trưởng đoàn chẳng biết tí ti ǵ về quần đảo Anambas trong thực tế và cũng chẳng giây mơ rễ má đến kỷ niệm thời tỵ nạn với vùng này (v́ ổng là dân "cựu Bidong" ở tận bên Mă Lai) nhưng có lẽ là người am tường địa h́nh nhất trong nhóm. Từ khoảng 6 tháng trước chuyến đi, ngày nào ổng cũng chúi mũi vào màn h́nh computer tra cứu bản đồ, tham khảo những dữ kiện địa lư, đối chiếu với hồi ức của những người từng tạm cư tại đây... Và để chắc ăn, ổng c̣n mang theo cả máy đo tọa độ từ vệ tinh để xác định những vị trí cần biết; như các điểm chuẩn trên đảo, địa điểm các ngôi mộ hoặc di tích thuyền nhân Việt Nam...

Khoảng 15 người trong nhóm đă từng đến Letung nhưng hầu như chẳng ai nhận ra ḥn đảo này từ xa. Măi đến khi chúng tôi bước chân lên cầu tàu, những h́nh ảnh và kỷ niệm từ ngăn kéo kư ức khóa kín 25-30 năm trước mới tái hiện, dồn dập đến ngộp thở v́ xúc động.

Tấm bảng "Selamat Datang" trên cổng chào ở cầu tàu đă tạo nên cảm giác êm ả và gần gũi. Vài đứa bé ḿnh trần bóng láng đang tắm biển dưới chân cầu tàu vẫy tay chào "Hello" với nụ cười rạng rỡ làm rụng tim các bà mẹ trong đoàn. Mấy bịch bánh kẹo, ô mai xí muội "cho đỡ buồn miệng dọc đường" của Kim Vân (từ Melbourne, Úc), Xuân Hương (Munich, Đức), Trang Đài (California, Mỹ), Ngọc Thúy (Paris, Pháp)... được lôi ra hết để kết bạn với các thiên thần nhỏ tuổi. Món quà làm quen này đă xô ngă tức khắc hàng rào bất đồng ngôn ngữ giữa chúng tôi và người dân địa phương. Những bàn tay nắm chặt, ánh mắt ấm áp, cử chỉ thân thiện của họ vẫn như ngày nào họ từng cưu mang hàng trăm, hàng ngàn đoàn người tỵ nạn lếch thếch, tơi tả, hấp hối... đến đây từ vùng đất xa xôi không cùng chủng tộc, văn hóa, lịch sử... Thoáng chốc, khoảng thời gian mấy mươi năm xa cách bỗng thu ngắn lại như mới hôm qua...

(Một nhận xét nữa, đáng ghi lại: Dù sống cách xa "văn minh thành thị" nhưng hầu hết trẻ em trên những ḥn đảo này rất lễ phép, biết chào khách và không bám theo xin xỏ hoặc quấy rầy như thường thấy ở những nơi khác. Nhiều em c̣n từ chối nhận quà khi không được cha mẹ cho phép. Giỏi quá!)

Letung không đổi thay nhiều so với 27 năm trước, khi tôi và những người bạn cùng ghe đến đây sau bốn ngày vượt biển. Tiệm tạp hóa ngay ở cầu tàu - nơi người chủ ghe của chúng tôi mua thùng ḿ gói đầu tiên trên đất liền với giá 1 chỉ vàng để "mừng sống" cho cả ghe - nay là một quán cà-phê, cũng với mái tôn che phủ ra ngoài và vài cái bàn bày dưới hàng hiên. Tôi vào hỏi thăm (bằng miệng và... bằng tay) mới biết người chủ cũ đă qua đời và cái tiệm bây giờ do con gái của ông quán xuyến. Tôi gọi một ly cà-phê và mua gói Garam để nhớ lại hương vị cũ, dù không mấy thích gout cà-phê Nam Dương và cũng không ghiền thuốc lá. Tôi cũng xin phép ra căn cḥi vệ sinh phía sau (bây giờ đă xây vách kín đáo) để sờ tay vào chiếc cột từng móc bộ đồ vượt biên te tua và lấm lem ói mửa sau khi được một người địa phương tặng cho chiếc áo lành lặn... Tô ḿ gói ngon nhất đời và chiếc áo ân nghĩa đó đă nuôi sống và giữ ấm t́nh người trong tôi đến tận hôm nay.


Sự tiếp đón ân cần lúc đầu bởi các viên chức và người dân Letung đột ngột trở thành khó thở với sự xuất hiện của "Thằng Mặt Đen" (xin miễn nêu tên, sợ "văng miểng" các nhóm đến đây lần sau), một nhân vật cắc ké trong hệ thống chính quyền địa phương cấp xă nhưng lại là người có thẩm quyền sinh sát về chuyến đi của chúng tôi. Y là "Xếp Bến Tàu", người có quyền cho phép các chuyến tàu - đặc biệt là những đoàn du khách quốc tế - cập bến và rời cảng Letung.

Giữa những sĩ quan quân đội và viên chức hành chánh cao cấp nhất đảo ra cầu tàu đón tiếp chúng tôi với thái độ niềm nở lịch sự, "Thằng Mặt Đen" đứng chống nạnh ưỡn ngực, khuôn mặt lạnh tanh làm ra dáng quan trọng, thỉnh thoảng đưa tay sửa lại chiếc mũ nỉ đen thêu chữ Harbour Master vàng chóe và đôi mắt láo liên dưới cặp kính râm cứ liếc xéo về phía nhóm phụ nữ. Vài người trong đoàn lân la đến làm quen nhưng y cứ hất mặt lên, chẳng muốn bắt chuyện dù y cũng vơ vẽ vài câu tiếng Anh. Chúng tôi bắt đầu chột dạ và thầm th́ cảnh giác cho nhau. Vài người hồi tưởng đến h́nh ảnh của những hung thần một thời trong các trại tỵ nạn...

Với một cử chỉ dứt khoát, "Thằng Mặt Đen" ra lệnh chiếc ca-nô tốc hành của chúng tôi không được tách bến v́... lư do an toàn. Quả vậy, lúc đó một cơn mưa rào bỗng ập xuống như trút nước. Nhưng mưa rào trong tháng hè ở vùng nhiệt đới là chuyện thường ngày mà! Dù sao, nó đă là lư do đủ để "Thằng Mặt Đen" biểu diễn uy quyền. Y trịnh trọng đưa tay sửa lại bảng tên trên túi áo đầy huy hiệu và chiếc mũ Harbour Master trên đầu lần nữa trước khi leo lên xe Honda phóng đi mất dạng. Chúng tôi đứng lóng nhóng ở bến tàu trong khi Edi, người hướng dẫn đoàn, hối hả đi... chạy thuốc.

Cơn mưa đi bất chợt như khi nó đến. Chỉ dăm phút sau, trời sạch như lau và biển lặng như tờ. Và "Thằng Mặt Đen" cũng trở lại, khuôn mặt giăn ra được một chút. Y khoát tay cho tài công tách bến. Edi và chúng tôi thở phào. Một bước khó khăn đă qua, nhưng chúng tôi biết c̣n nhiều bước khác sẽ đến, v́ Letung là "hậu cứ hành quân" của chuyến trở về Kuku và chuyện dài bực ḿnh này c̣n... hồi sau sẽ rơ. Dù sao, "được một bửa là anh mừng một bửa" cái đă, mọi rắc rối ngày mai cứ chờ đấy!

(Về sau chúng tôi mới biết "Thằng Mặt Đen" là quư tử độc nhất của một đại gia ở Letung, học hành chẳng ra ǵ - cái chức Habour Master là do... tiền định - và y mắc bệnh "hám danh mê quyền" đến điên rồ. Ra thế, xí xóa cho kẻ tội nghiệp ấy thôi!)

Chiếc ca-nô lại phóng ḿnh ra biển với những tiếng cười và chuyện kể rôm rả. Ai nấy đều đă quên bản mặt đăm đăm như bị táo bón của Xếp Bến Tàu như quên một lỗ ổ gà dọc đường. Tàu ghé đảo Air Raya rước hai người hướng đạo địa phương đến Kuku v́ họ biết rành các thủy lộ tránh đá ngầm và cũng đă từng sống ở Kuku trong thời gian có người VN tỵ nạn. Họ mang cả dao rựa (thấy mà khiếp!) để phát hoang mở đường cho chúng tôi đến những địa điểm muốn đến.

Theo hướng chỉ của người dẫn đường, Kuku hiện ra mờ mờ từ phía chân trời sau khoảng nửa giờ hải hành. Chúng tôi yêu cầu tài công giảm tốc độ để mọi người có thể ngắm nh́n ḥn đảo một thời từng là mảnh đất hồi sinh của ḿnh. Ai nấy đều chồm ra ngoài khung cửa sổ, tất cả máy chụp h́nh giương cao lên để bấm những tấm ảnh để đời, bất chấp các quy định về an toàn di chuyển. Viên tài công mỉm cười thông cảm và chia sẻ. Mấy khi một đoàn khách thế này có dịp về thăm lại nơi chốn đầy ắp kỷ niệm như vậy...

Đảo rộng chừng vài chục cây số vuông mà ngay cả một số người địa phương chưa hề nghe tên. Nhưng đối với gần trăm ngàn thuyền nhân Việt Nam, Kuku nằm tận trong ngăn sâu kư ức bồi hồi v́ nó từng là nơi đặt chân đầu tiên của họ trên đường vượt biển tỵ nạn cách đây hơn một phần tư thế kỷ. V́ vậy Kuku đối với họ là một kho tàng kỷ niệm của cả đời người. Nó đồng nghĩa với sự sống sau chuyến hải hành thập tử nhất sinh, đồng nghĩa với nhân phẩm và tự do, đồng nghĩa với những giọt nước mắt ngậm ngùi tưởng tiếc các bạn đồng thuyền nằm lại và nụ cười hy vọng của cuộc đời mà họ có hôm nay...

Nhớ lại, nhân chuyến Về Bến Tự Do lần thứ nh́ hồi tháng 8.2005 - sau khi hai tượng đài tưởng niệm thuyền nhân ở các trại tỵ nạn Bidong (Mă Lai) và Galang (Nam Dương) bị đập bỏ v́ áp lực từ Hà Nội - VKTNVN đă có dịp tiếp xúc với Thống đốc của Tiểu bang Tanjung Pinang để bày tỏ ḷng tri ân của người tỵ nạn VN với Chính phủ Nam Dương và đồng thời xin phép đến thăm Kuku. Chính vị Thống đốc rất thân thiện này, một Tiến sĩ tốt nghiệp từ Bỉ có sự hiểu biết sâu sắc về hoàn cảnh của người tỵ nạn từ Việt Nam, cũng không biết Kuku nằm ở đâu, dù nó thuộc quyền quản trị hành chánh của ông.

Trước chuyến đi lần này, không ai trong chúng tôi biết rơ - hoặc nhớ lại - một cách chính xác địa h́nh địa vật trên đảo. Những chi tiết trong hệ thống định vị thế giới trên mạng Google cũng chỉ cung cấp vài nét thông tin đại khái. Thậm chí, không có cả địa danh Kuku trong bản đồ của quần đảo Anambas. Thôi th́ kẻ bàn ra người tán vào rối tung cả lên, mạnh ai nấy làm... thầy bói.

Kư ức của các "cựu Kuku" lại càng mù mờ hơn. Các ông bà cải nhau ỏm tỏi cả tháng trời trên email về vị trí của các điểm chuẩn trên đảo như sân trực thăng, nhà thương, văn pḥng Cao ủy, ghềnh đá "Bác Hồ" v.v... Chẳng ai nhường ai, nhưng hầu như tất cả đều "ngậm ngùi thừa nhận" rằng có thể thời gian đă gặm mất một mảng lớn bộ nhớ của họ rồi. Trong đoàn, người có "tuổi đảo" cao nhất chỉ 6-7 tháng, trong khi thời gian xa cách ai cũng tṛm trèm hai chục năm dư. Có thánh mới dám vỗ ngực xác nhận được ở đâu trên băi biển xinh đẹp đến ngẩn ngơ đó là nơi... "tao đă đào lỗ chôn bầu tâm sự".

(Một khám phá thú vị: Địa danh Kuku có nghĩa là "cậu", phiên âm theo tiếng Hoa. Nó bắt nguồn từ một câu chuyện cách đây hơn nửa thế kỷ khi một thương nhân người Hoa đến đây khai hoang trồng dừa. Ông là một người tốt bụng, thường giúp đỡ dân nghèo nên được mọi người thương mến gọi bằng "cậu". Sau khi ông qua đời - hoặc bỏ đi nơi khác, chẳng ai rơ - người ta đặt tên rừng dừa này là Kuku.)

Bây giờ, Kuku đang ở trước mặt...

Anh trưởng đoàn Trần Đông lúi húi ḍ t́m trên máy định vị để xác định tọa độ của Kuku, gương mặt căng thẳng chợt giăn ra sau một tiếng "Đúng!" cụt ngủn. Mấy tháng trời xẩu ḿnh với cả chục tấm bản đồ chi chít, ổng đă "t́m được em rồi". Cậu út Tuấn Hùng leo hẳn lên mui tàu để quay phim, tấm lưng trần lực lưỡng và mái tóc lồng lộng trong gió trông hệt một Robinson Crusoe thời đại. Cô nương Oanh Oanh ch́a máy thu âm để ghi lại cảm xúc của từng người trong "giờ phút lịch sử" đó. Anh Nguyễn Triệu (từ Melbourne, Úc; không phải là bạn của Lưu Thần khi... lạc thiên thai) rưng rưng nh́n lên đỉnh đảo như để lắng nghe một tiếng gọi tŕu mến từ quá khứ tuy đă xa nhưng đang rất gần. Kim Vân (từ Melbourne, Úc), cô bé mười mấy tuổi khi ở Kuku, căng mắt t́m chiếc cầu tàu mà gia đ́nh cô đổ bộ lên cách đây hơn phần tư thế kỷ sau chuyến vượt biển thừa chết thiếu sống. Bác Hồ (từ Atlanta, Mỹ) - dạ phải, ông đă cao tuổi và mang... họ Hồ - đứng vịn thành tàu mà tṛng mắt đỏ hoe, nhớ lại thời trung niên gian truân trên đảo. Và niên trưởng Tôn Thất Vinh (từ Paris, Pháp) cũng bồi hồi rút ra chiếc mũ mà ông cất kín trong ba-lô từ đầu cuộc hành tŕnh. Chiếc mũ ấy là kỷ vật duy nhất c̣n lại của ông sau gần 30 năm rời Kuku và bây giờ, người cựu tỵ nạn 71 tuổi ấy đội lại lên đầu như một lời chào tái ngộ...

Một cảm giác hụt hẫng bỗng phủ tràn trong tâm tưởng của các "cựu Kuku" khi chiếc ca-nô tiến dần vào bờ. Hàng dừa cao vút đâu rồi? Băi biển thênh thang ngày xưa sao bây giờ chỉ c̣n chút xíu? Các dăy lều tạm cư và cầu tàu chẳng c̣n dấu vết nào cả ư? Cả một khu vực rộng lớn vang động âm thanh và xôn xao bóng người bây giờ chỉ là một vạt rừng xanh ngăn ngắt, hoang vu và lạnh lẽo...

Nước cạn, ca-nô không thể ủi băi v́ sợ đá ngầm làm găy chân vịt. Chúng tôi, từng nhóm nhỏ 4-5 người, phải leo xuống chiếc xuồng của dân địa phương chờ sẵn để được dắt vào bờ. Tôi lên chuyến "taxi" thứ nhất với ư định sẽ bấm những tấm h́nh của đoàn người tỵ nạn đầu tiên "trở về mái nhà xưa" kể từ khi những thuyền nhân VN cuối cùng rời Kuku cách đây hai thập niên. Độ xốp của băi cát làm tôi lún sâu đến mắt cá và té nhủi vào một bụi cỏ khi hấp tấp phóng xuống từ mũi xuồng, mặt mày lấm lem và chiếc máy ảnh đeo trên vai cũng trở thành vô dụng từ đó. (Cám ơn các bạn cùng chuyến đă "viện trợ" cho tôi những tấm h́nh trong loạt bài phóng sự này. Món nợ đó sẽ được trả lại đầy đủ bằng... ḿ xào ớt trong chuyến Kuku lần sau!) Tôi không tiếc chiếc máy ảnh c̣n khá tốt (dù biết "Lệnh Bề Trên" ở nhà sẽ cằn nhằn khi trở về, v́ "bả" thương nó lắm) nhưng chỉ tiếc đă không ghi lại được những tấm h́nh ư nghĩa đó.

Chúng tôi được biết khi những thuyền nhân VN cuối cùng rời đảo, cả trại tỵ nạn đă được "hỏa thiêu" như một biện pháp tổng vệ sinh pḥng ngừa bệnh dịch. Từ ấy, Kuku lại trở thành một đảo hoang cho đến nay.

Không ai nh́n ra cảnh cũ v́ mọi dấu vết đă bị thời gian xóa sạch gần hết. Rừng cây và cỏ dại đă lấn ra tận mé nước khiến băi biển bị thu hẹp lại. Những gốc cổ thụ nghiêng đổ ngổn ngang làm lạc hướng kư ức của những người t́m về. Ngoài khung cảnh thiên nhiên, vài di tích nhân tạo c̣n nhận dạng ra được là băi đáp trực thăng trên đỉnh đồi, nền chùa um tùm cỏ dại bên bờ suối và những chiếc cọc bê-tông rêu phong của khu bệnh xá...

Căn nhà khá rắn chắc từng là văn pḥng Cao ủy Tỵ nạn LHQ ở đầu ghềnh phía tay mặt (từ ngoài biển nh́n vào) cũng chẳng c̣n ǵ ngoài vài chiếc trụ xi-măng cô đơn giữa những đợt sóng miên man không dứt. Mấy xác ghe vượt biên trơ sườn bị chôn vùi dưới lớp cát dầy bởi hàng vạn đợt thủy triều c̣n ráng nhú mũi lên như những nấm mồ chứng nhân chưa siêu thoát của một thời dâu bể...

Chúng tôi tập họp trên băi cỏ tranh bên bờ biển, nghe Trần Lăo Gia phổ biến (lần thứ... một trăm) các quy định của đoàn về an toàn và cấp cứu trước khi được những người địa phương dẫn đường lên đồi trực thăng, điểm chuẩn để định hướng các vị trí cần đến trên đảo.

Ngày 3 (12.04 Kuku): Phép lạ giữa đời...

Trong đoàn trở về Kuku có ba nhóm t́m kiếm phần mộ người thân và hỏa thiêu hài cốt nếu t́m thấy. Các thành viên khác trong đoàn - ngoài mục đích thăm viếng, cầu nguyện và thu thập di vật thuyền nhân - cũng nhân chuyến đi này tự nguyện "đỡ đần một tay" với các nhóm đó, dù đa số không quen biết nhau trước khi lên đường.

Nhóm thứ nhất là "Băng 3T", gồm 3 anh em cột chèo: Triệu (từ Melbourne, Úc), Tài và Tước (từ Sài G̣n, Việt Nam). Triệu là người chèo lái, "rước" người chị đầu, Tài và Tước là hai người chèo mũi, "ẵm" hai cô em sau. Do một cơ duyên t́nh cờ từ mấy tháng trước, ba anh em cùng hẹn đến Kuku v́ một lư do rất xa và rất gần...

Cách đây gần đúng 27 năm, anh Triệu cùng người vợ mới cưới, chị Cecile Hoàng Thu Minh, đến Kuku sau một chuyến vượt biên gian nan vào đầu tháng 6.1982. Mối t́nh đầy trắc trở và thử thách qua thời gian dài đă bắt đầu kết hoa đơm trái trên ḥn đảo tỵ nạn này, một nơi thiếu hụt mọi bề mà đôi vợ chồng son coi như thiên đường trăng mật của họ.

Nhưng định mệnh oan nghiệt đă cướp đi mạng sống của chị - và chiếc bào thai vừa tượng h́nh trong bụng - sau gần 2 tháng đến đảo, giữa lúc ước mơ về một tương lai hạnh phúc vừa chớm nở. Cơn sốt rét cấp tính đă quật ngă chị - và xô luôn cả anh vào trũng xoáy khủng hoảng - sau mấy tuần chống chọi trong tuyệt vọng với căn bệnh. Chị được chôn cất vội vàng, chỉ vài giờ sau khi trút hơi thở cuối cùng vào buổi sáng, v́ lúc ấy chuyến tàu Cao ủy Tỵ nạn LHQ đang chờ ngoài băi Kuku và dự định sẽ nhổ neo vào lúc 3 giờ chiều cùng ngày để đưa nhóm thuyền nhân ở đây về trại tỵ nạn Galang.

Mọi chuyện đều gấp rút. Anh bối rối không biết phải làm ǵ nên cứ chống chọi với hoàn cảnh được tới đâu hay tới đó, theo từng phút trôi qua. Rất may, chuyến tàu đă hoăn lại đến ngày hôm sau v́ một lư do ǵ đó nên anh và một số người đi cùng ghe có cơ hội lên đồi thăm chị lần cuối để đốt nén nhang từ biệt... Phần mộ của chị nằm cạnh băi đáp trực thăng do những người bạn và nhân viên Cao ủy Tỵ nạn LHQ chung tay giúp anh thiết lập. Họ đă che chắn chung quanh ngôi mộ bằng những thân cây lớn để chống mưa lũ xói ṃn và cắm một chiếc thánh giá bằng gỗ đơn sơ ghi tên người quá văng...

Trong nỗi đau khổ tận cùng lúc đó, anh hầu như không c̣n tâm trí nào để ghi nhận hoặc làm dấu nơi an nghỉ ngh́n thu của người bạn đời. Anh như một kẻ mất hồn, ai bảo sao làm vậy, chứ không chủ động được việc ǵ trong nghi thức tang lễ hoặc mai táng cho chị. Anh chỉ mang máng nhớ rằng, theo lời chỉ dẫn của các cô bác cùng ghe, anh đă chôn theo trong quan tài những di vật (gương, lược, áo quần...) và để luôn chiếc nhẫn cưới trên ngón tay áp út của chị như lời kết nguyền một đời t́nh nghĩa phu thê. Anh cũng ghi chép các chi tiết cá nhân của chị và bỏ vào một cái chai được bịt kín để chôn trước đầu mộ, với hy vọng mai sau sẽ trở về t́m lại - hoặc có ai t́nh cờ t́m thấy mà biết gốc tích của người nằm dưới ḷng đất và đốt giùm một nén nhang siêu thoát...

(C̣n nữa)
__________________

A straightforward solution gives extreme effectiveness.
Reply With Quote
  #3  
Old 07-23-2009, 08:13 PM
SilverBullet's Avatar
SilverBullet SilverBullet is offline
Mightier Than Sword
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 1,958
Thanks: 2
Thanked 13 Times in 11 Posts
Default Re: Kuku, nhật kư thăm lại ḥn đảo tỵ nạn ở Nam Dương

Kuku, nhật kư thăm lại ḥn đảo tỵ nạn ở Nam Dương (Phần 3)

Lưu Dân



Nh́n lên đỉnh đồi phủ mờ mây trắng như một giải khăn tang ngh́n trùng xa cách khi chiếc tàu Cao ủy rời xa dần Kuku, anh đă thầm nói lời từ biệt với chị và hẹn ngày trở lại. Và hôm nay, hăm bảy năm sau, anh đă giữ tṛn lời hẹn...

Nhóm thứ nh́ là "Nhà họ Huỳnh", gồm hai anh em Thế Trung - Thế Minh và Bảo Thanh (vợ của Thế Minh) từ Sydney, Úc. Sự tham gia của ba anh em vào chuyến đi cũng là một chuyện ngẫu nhiên. Chỉ vài tuần trước khi lên đường, Minh t́nh cờ nghe được bản tin trên một đài phát thanh địa phương về chuyến đi Kuku. Ngăn kéo kư ức từ lâu phủ bụi bỗng như được thổi một làn gió mạnh, hiện ra nguyên vẹn những kỷ niệm của một thời thơ ấu...

Hai anh em Trung và Minh ngày ấy chỉ là những thiếu niên 14 - 16 tuổi, ăn chưa no lo chưa tới, nhưng đă nhận biết và nếm trải cuộc đời tỵ nạn gian truân trên ḥn đảo này. Hơn nữa, Kuku là nơi gửi thân của người cha v́ một cơn bạo bệnh sau khi ông thực hiện ước mơ của đời ḿnh là đưa được mấy đứa con đến bờ tự do. Không một ngày chần chờ, Trung và Minh thu xếp nhanh gọn công việc và ghi danh tham gia chuyến đi ngay sau đó. Để cho chắc ăn, nhóm "Nhà họ Huỳnh" này c̣n nằng nặc đ̣i được... đóng tiền trước v́ sợ "lỡ tàu". Họ đă chờ đợi cơ hội này từ bao nhiêu năm rồi...

Trung - Minh - Thanh lên đường với sự chuẩn bị khá đầy đủ và một tâm trạng náo nức, tin tưởng. Trước ngày đến điểm "tập kết" ở Singapore, cả ba cũng đă ghé Mă Lai để báo tin cho người bà con duy nhất c̣n sống của gịng họ về ư định bốc mộ và hỏa thiêu di hài của cha. Mấy anh em c̣n nhớ khá rơ vị trí mộ phần của cha bên ngôi chùa cạnh ḍng suối và những mốc điểm dễ nhận quanh đó. Họ cũng có thời gian lưu lại đảo khá lâu sau cái chết của cha và hàng ngày đều đến thắp nhang cầu nguyện. Trong ba nhóm t́m mộ, có lẽ Nhà họ Huỳnh là nhóm có triển vọng thành công cao nhất.

Nhóm thứ ba là "Bố vợ con rể" từ Atlanta, Mỹ: David Lư và... Hồ Tặc (vâng, chính "bác" đấy! Thật ra, bác tên Hồ Tắc, nhưng anh chị em trong đoàn cứ thuận miệng gọi trại đi cho... khỏi phạm húy. Được cái là bác không hề giận mà c̣n cười khanh khách khi "bị" so sánh với... người kia). Bác Hồ Tắc tham gia chuyến đi là để "hỗ trợ tinh thần cho thằng rể" về Kuku t́m mộ của mẹ và cũng để thăm lại đảo Air Raya (kế cận Kuku), nơi bác được vớt vào sau chuyến vượt biển hăi hùng ba mươi năm trước.
David cũng là một cựu thuyền nhân tỵ nạn, nhưng anh đến trại Bidong ở Mă Lai chứ không phải Kuku. Gia đ́nh anh chia nhau thành nhiều toán vượt thoát khỏi Việt Nam bằng đường biển và đă đến các trại khác nhau. Mẹ anh và một người d́ đến Kuku, quăng năm 1980, khi ấy David c̣n là một cậu bé chưa đầy 10 tuổi. Mẹ anh đă vĩnh viễn nằm lại trên đảo sau một cơn bệnh - và người d́, bây giờ chẳng c̣n nhớ ǵ nhiều về vị trí chôn cất của chị v́ bà cũng chỉ tạm cư trên ḥn đảo này trong thời gian rất ngắn. Chi tiết duy nhất mà bà c̣n nhớ và kể lại cho David là mẹ anh được chôn trong một miếng đất bằng, cạnh một cây cổ thụ, bên suối nước nhỏ...
David, một kỹ sư họa đồ kiến trúc nhưng bỏ nghề để làm... đầu bếp và hiện là chủ của nhiều nhà hàng nổi tiếng ở Atlanta, cũng t́nh cờ biết tin về chuyến đi Kuku khi "ṃ" lên internet và được giới thiệu đến Văn khố Thuyền nhân VN. Dù không mảy may hy vọng t́m được mộ mẹ nhưng David vẫn nhất định tham dự chuyến đi v́ một sự thôi thúc lạ kỳ trong ḷng. Bao nhiêu năm qua anh ao ước có dịp đến Kuku để thắp một nén nhang cho người mẹ mà anh chỉ c̣n nhớ h́nh ảnh lờ mờ trong kư ức tuổi thơ.

Hành trang anh mang theo trong chuyến đi t́m mộ chỉ là một tờ giấy viết tay ghi tên họ, ngày tháng sinh tử của mẹ bằng tiếng Hoa (mà chính anh cũng không biết đọc) và hai chiếc va-ly lớn chứa đầy vàng mă để cúng vong cho những thuyền nhân Việt Nam nằm lại ở xứ người...

Nghe chuyện của David, mọi người trong đoàn đều cảm động nhưng cũng vui mừng về tấm ḷng của một đứa con, dù lớn lên ở đất nước thực dụng mà các giá trị tinh thần bị xếp hạng dưới xa sự thành công về vật chất nhưng vẫn giữ trọn đạo hiếu nghĩa với đấng sinh thành.

Sau màn điểm danh và dặn ḍ, chúng tôi xếp hàng một đi lên đồi theo những người hướng dẫn địa phương. Bao nhiêu căi cọ trong nhóm trước ngày lên đường chỉ trong phút chốc đă "gửi gió cho mây ngàn bay" v́ chẳng ai dám hó hé ǵ nữa về trí nhớ chắc như cua gạch của ḿnh về địa h́nh trên đảo. Cứ ngậm miệng mà bước theo mấy ông Nam Dương đen nhẻm này cho chắc ăn!

Vượt qua một băi cỏ tranh khá rộng - mà chúng tôi được cho biết từng là bệnh xá và khu barracks cũ - nhóm dẫn đường bắt đầu chặt cây đốn cành mở lối lên đồi. Đường dốc và ẩm ướt nên họ vạt cho mỗi người chúng tôi một cây gậy đi rừng, như kiểu gậy của các hướng đạo sinh, dài khoảng hơn một mét, vừa để chống tay nghỉ mệt vừa để chống... thú rừng. (Hú vía, chúng tôi đă không gặp một con kỳ đà hoặc khỉ đột nào cả, dù vài người đă kể lại một cách quả quyết về sự hiện diện của các giống thú này trên đảo). "Cái chân thứ ba" đó đă nhiều phen cứu nguy những bàn thua trông thấy khi một số người trong đoàn suưt trượt ngă hoặc mất thăng bằng qua các khúc quanh trơn trợt. Vậy mà những người dẫn đường cứ tỉnh queo vọt tới, chân trần phom phom và vai vác cả chục kư hành lư...

Dù mệt lè cả lưỡi khi lên đến băi đáp trực thăng (có lẽ chỉ ông già viết bài này cảm thấy như vậy thôi, chứ các bạn trẻ trong đoàn vẫn c̣n... gân lắm!), chúng tôi nhanh chóng bày ra lễ phẩm để cầu nguyện tập thể cho vong linh thuyền nhân VN nằm lại trên đảo. Tuy đă từng vài lần tham dự những nghi thức tương tự nhưng tôi chưa hề chứng kiến "một buổi lễ cầu nguyện quốc tế" không giống ai nhưng lại ḥa hợp đến trọn vẹn như thế! Ngoài kinh kệ chuông mơ được Ban tổ chức chuẩn bị sẵn từ Úc, chiếc chiếu hoa mới toanh trải trên nền xi-măng giữa trời thay cho bàn lễ là của Đ́nh Chấn đưa sang từ Đức, vàng mả và lễ phẩm cúng vong do bạn trẻ David đóng thùng mang theo từ Mỹ, bánh kẹo và hoa quả do các chị mua ở chợ Terempah từ hôm trước, thậm chí có cả những ổ bánh chưng (thứ thực phẩm mà người vượt biên thường mang theo) và mấy lít rượu đế của Tài và Tước mang từ Việt Nam... Và cả những cành hoa rừng Kuku nữa! Tất cả những lễ phẩm này đều không có sự xếp đặt trước, mỗi người cứ tùy ḷng mà lo liệu, nhưng lại ăn khớp như một lời đồng thanh mời gọi những linh hồn mồ côi cùng về chứng tri buổi lễ cầu nguyện...

Giữa lúc cả đoàn đang quây quần làm lễ, chúng tôi bỗng nghe tiếng kêu thảng thốt "Anh Triệu ơi... Anh Triệu!" của Tài từ sau lưng đồi, cách địa điểm cầu nguyện không xa. Mọi người dừng ngay các việc đang làm và hướng mắt về phía tiếng kêu với vẻ lo ngại hiện lên khuôn mặt. Trong đầu, ai cũng thoáng nghĩ đến chuyện rủi ro hoặc tai nạn. Nhưng dường như tiếng kêu không phải là sự báo nguy v́ nó toát ra một âm thanh ngạc nhiên và mừng rỡ. Chắc là...

Anh Triệu cũng đoán thế! Anh, Tước và tôi cùng vài người địa phương cầm dao rựa và gậy gộc băng tới nơi phát xuất tiếng kêu, chỉ cách băi trực thăng khoảng trăm mét bên mé phải, vừa mở đường vừa gọi tên để định hướng. Tiếng đáp của Tài vọng lại mồn một cả góc rừng yên tĩnh đă làm xúc động cho cả đoàn: "T́m thấy mộ rồi, anh Triệu ơi!"

Ngay bên dưới sườn đồi khá dốc, Tài đứng đó, trước một tấm bia đá ghi rơ họ tên người chị vợ quá cố, khuôn mặt c̣n ràn rụa thương cảm và vui mừng. Anh Triệu, sau thời gian đăng đẳng chôn kín nỗi sầu thương trong ḷng, đă không ngăn giữ được nữa cảm xúc của ḿnh. Anh gần như ngă khụy xuống, để mặc cho ḍng nước mắt tái ngộ dâng trào. Một số người khác trong đoàn cũng vừa kéo đến, chúng tôi ôm nhau chia sẻ niềm hạnh phúc đoàn tụ của anh, dưới bóng những thân cây cao che rợp nắng trưa và tiếng chim ḥa điệu bản đàn thôn dă...

V́ sợ không đủ thời gian trên đảo trong ngày đầu tiên nên Tài đă tách đoàn để tranh thủ t́m mộ chị Cecile Hoàng Thu Minh lúc mọi người c̣n đang chuẩn bị lễ cầu nguyện. Dù chưa đến Kuku lần nào (thật ra, đây là lần đầu tiên hai anh em cột chèo Tài và Tước rời Việt Nam ra nước ngoài) nhưng những câu chuyện nghe kể lại trong gia đ́nh và ḷng thương cảm đối với người "chèo lái" mà họ coi như anh ruột, Tài đă quyết định "xé lẻ" để thực hiện ư định của ḿnh. Hơn nữa, anh cũng có một ít kinh nghiệm về chuyện đi t́m mộ ở Việt Nam nên đă khá dễ dàng xác định được địa điểm chôn cất của người chị vợ. Và kết quả đă đến một cách không ngờ...

Ngay cả anh Triệu cũng không ngờ. Trước chuyến đi, anh chỉ mơ hồ hồi tưởng những chi tiết rời rạc về vị trí mộ phần của người vợ đầu (anh đă tục huyền khi định cư ở Úc nhiều năm sau khi đoạn tang) v́ lúc mai táng anh hầu như không c̣n thần trí để ghi nhớ mọi chuyện. Những di vật c̣n lại của biến cố bi thương trong đời đó mà anh mang theo trong chuyến đi chỉ là vài tấm h́nh đă phai màu của những người bạn cùng ghe đang đứng cầu nguyện trước ngôi mộ của chị, lúc đó không có cả tấm bia đá được khắc tên rơ ràng như bây giờ. Với anh, sự t́m thấy ngôi mộ - và tấm bia anh chưa một lần nh́n thấy - là cả một phép lạ, dù nó đă nằm trong tiềm thức của anh từ hơn phần tư thế kỷ qua.

Anh Triều kể lại rằng sau khi rời đảo một cách vội vàng v́ hoàn cảnh không cho phép nấn ná thêm, anh được biết những người bạn c̣n ở lại đă lập tấm bia cho chị theo ước nguyện của anh. Anh đă viết thư kể chuyện này cho gia đ́nh chị nhưng lại quên bẵng chi tiết quan trọng đó khi chuẩn bị lên đường về Kuku. Nhưng Tài lại nhớ và nhờ đó, đă t́m được. Kư ức của anh, như một cuốn phim cũ được quay chậm lại, dần dần hiện ra nguyên vẹn và rơ ràng, dù qua màn lệ nḥe nhoẹt dưới mái đầu đă nhuốm phong sương...

Ngày rời Kuku 27 năm trước trên chiếc tàu Cao ủy đi đến trại Galang cùng khoảng 450 người khác, anh đă dơi mắt lên đỉnh núi và khấn thầm trong ḷng: "Anh đă đưa em đi. Anh sẽ đưa em về!" Ngày mai, anh Triệu và chúng tôi sẽ trở lại để cùng bốc mộ chị đưa về đất mẹ, về với gia đ́nh và bạn bè theo ư nguyện của anh.
Trong khi anh Triệu vẫn c̣n chưa nguôi thương cảm, Tài và Tước đă chu đáo sắp xếp những phong bánh và b́nh sữa cho đứa cháu chưa ra đời trên chiếc hộp giấy đơn sơ trước phần mộ của người chị vợ. Hai anh em cột chèo cũng kịp thời thông báo qua điện thoại di động về tin vui này đến những người thân ở Hoa Kỳ và Việt Nam đang ngày đêm cầu nguyện và mong đợi. Những tiếng nấc nghẹn hạnh phúc và lời tạ ơn vọng lại từ cả hai bờ đại đương đến khu rừng tịch mịch mênh mông này khiến ai cũng rưng rưng...

Lúc ấy, buổi lễ chung tại băi trực thăng cũng vừa dứt. Anh Trưởng đoàn cùng mọi người kéo đến hiệp lời cầu nguyện cho Cecile. Trước phần mộ của chị, anh Trưởng đoàn đốt nén nhang khấn vái: "Chị Thu Minh ơi, tôi thay mặt cho cả đoàn xin được chúc mừng cho chị. Anh Triệu và gia đ́nh đă t́m kiếm chị từ bao nhiêu năm nay đến bây giờ mới đủ duyên lành để hội ngộ. Kính cầu nguyện cho linh hồn chị yên nghỉ ở nước Chúa. Ngày mai, chúng tôi sẽ trở lại và kính xin được rước hài cốt của chị về với gia đ́nh. Xin được báo tin với chị và mong chi giúp cho đoàn t́m được các mồ mả thuyền nhân VN khác trên đảo..."

Chúng tôi đứng bên nhau cùng dâng lời cầu nguyện cho linh hồn người quá cố được thảnh thơi nơi cơi vĩnh hằng và chúc mừng sự đoàn tụ của anh chị, trong ư nghĩa thiêng liêng về sự kết hợp của Thiên Chúa. Những bản thánh ca, lời kinh Lạy Cha và Kính Mừng cất lên, dịu dàng và an ủi, như thấp thoáng trong bóng mát cây rừng Kuku nụ cười xum họp của Cecile.

Sau nghi thức ngắn ngủi nhưng đầy xúc động, chúng tôi xuống đồi tiếp tục t́m kiếm những ngôi mộ khác. Nắng gắt buổi trưa và năng lượng bị tiêu hao trong chuyến leo đồi buổi sáng đă làm cho nhiều người thấm mệt nhưng ai nấy vẫn tỏ ra "dư sức qua cầu" sau tin vui của Băng 3T. Lại nữa, cả đoàn vừa được bơm một liều vitamin độc đáo và đúng lúc: một chục ổ bánh chưng và dưa món do Tài và Tước cắc củm mang (lén) sang từ Sài G̣n để "đăi" anh chị em... Việt kiều trên đất khách. (Quư hóa lắm, cái t́nh đồng bào rất đậm đà trong lối nghĩ và cách thương cho nhau! Cám ơn hai bạn nhiều nhé. Có dịp sang Úc, tôi sẽ mời lại món kangaroo nướng khói độc đáo của quê hương thứ hai của tôi!).

Thật ra, công ty du lịch đă chuẩn bị phần ăn trưa đầy đủ cho đoàn nhưng chúng tôi nhường mấy chục hộp ḿ xào ớt đó cho khoảng 20 người địa phương đi cùng để thưởng thức hương vị quê nhà ở nơi "trời quen đất lạ" này.

Sau bữa ăn "tay cầm" dă chiến trên đỉnh đồi, đoàn chia ra làm hai nhóm để t́m kiếm và ghi nhận vị trí các ngôi mộ thuyền nhân VN trên đảo. Trần Lăo Gia dẫn một nhóm đi "quần" các khu vực trước đây có nhiều người được chôn cất. Tôi t́nh nguyện dẫn nhóm thứ nh́ t́m mộ của "Nhà họ Huỳnh" theo bản đồ trí nhớ của ḿnh căn cứ trên những chi tiết được hai anh em Thế Trung - Thế Minh kể lại. David Lư (và "bác Hồ" bố vợ) cũng theo nhóm của tôi để... cầu may, v́ thật sự anh hoàn toàn không biết vị trí ngôi mộ của mẹ. Cả hai nhóm đều có người địa phương hướng dẫn và khuân vác giúp những vật dụng cúng tế.

Sau khoảng một giờ "trượt đồi" và băng qua vạt cỏ tranh cao gần đầu người, nhóm chúng tôi đến một khu rừng thưa. Tôi quyết định cho nhóm nghỉ chân tại băi trống cạnh một con suối cạn để bà con phục hồi công lực trước khi... chống gậy lê bước đi tiếp về hướng ngôi chùa theo lời chỉ dẫn của những người địa phương. Trong lúc cả nhóm (trong đó có cả một sĩ quan cảnh sát và một người lính đi theo bảo vệ an ninh) giải lao cà-phê thuốc lá, vài người bỗng phát giác có nhiều ngôi mộ răi rác quanh băi đất trống này. Thật ra, đó chỉ là những ḥn đá đă xanh rêu được xếp thành h́nh bầu dục hoặc h́nh chữ nhật do bàn tay con người, một phần bị lún sâu xuống đất sau bao mùa mưa nắng. Nhưng rơ ràng, đó là những ngôi mộ thuyền nhân v́ một số tấm bia có sơn hoặc khắc danh tính của người chết bằng tiếng Việt và tiếng Hoa, được tạo dựng trong khoảng thời gian người tỵ nạn lưu ngụ trên đảo.

Chúng tôi quên cả mệt, lập tức giăng giây làm dấu địa điểm và bắt đầu chụp h́nh, đốt nhang tại những ngôi mộ t́m thấy. Út Tuấn Hùng quay phim hết toàn cảnh khu vực này, trong lúc David và những anh chị khác bày biện lễ phẩm cúng tế. Chúng tôi tiếp tục sục sạo chung quanh với hy vọng t́m thêm được các ngôi mộ khác. Tất cả đều cầu nguyện thành tiếng để mong nhờ những linh hồn bơ vơ phù trợ cho chúng tôi t́m được nơi gửi thân của họ mà thắp nén nhang tưởng niệm...

Bỗng tôi nghe một tiếng gọi lớn: "Anh Lưu Dân ơi, có một bia mộ nữa nè!" Một ḍng điện nửa như rờn rợn nửa như ấm áp chạy dọc sống lưng tôi khi nh́n thấy màu sơn c̣n đỏ tươi trên phiến đá nằm úp mặt xuống đất vừa được lật lên. Ngay lúc đó, tôi có linh cảm một sự huyền nhiệm lạ lùng đang hiện đến...

Bất chợt, tôi buột miệng gọi: "David, lại đây! Mẹ em tên ǵ vậy? Có biết ngày sinh, ngày tử của bà không?" Tôi hỏi dồn dập mà không ư thức đến cả việc tấm bia mộ chỉ viết bằng tiếng Hoa, ngôn ngữ mà trong nhóm không ai biết đọc. Bác Hồ Tắc nhanh chân phóng lại, nhưng ông lắc đầu bảo: "Chắc không phải đâu, v́ d́ nó nói mẹ nó chôn bên cạnh một cây cổ thụ rất lớn mà..."

Dù không tin đó là ngôi mộ của mẹ ḿnh, nhưng David cũng chạy vội đến và suưt té ngă khi anh vấp chân vào một gốc cây bị đốn ĺa gần sát đất. Anh lấy ra mảnh giấy viết tay từ chiếc ba-lô đeo vai mấy ngày nay để so chiếu với những chữ trên tấm bia. Bác Hồ Tắc cẩn thận rưới b́nh nước uống mang theo để rửa sạch bùn đất trên tấm bia và David cũng cởi phăng chiếc áo thun đang mặc để thấm khô vết nước. Bàn tay anh run lên khi ḍng chữ càng lúc càng hiện rơ ra trên tấm bia. Với vốn liếng Hán văn nghèo nàn của bác Hồ Tắc và tôi cộng lại khi so chiếu với ḍng chữ trên giấy mà David mang theo từ Mỹ, chúng tôi khẳng định đây chính là ngôi mộ của mẹ anh v́ tên tuổi, ngày sinh và ngày mất hoàn toàn khớp với nhau. Và gốc cây bị đốn sát đất (có lẽ đă vài năm rồi) suưt làm cho David vấp ngă chính là cây cổ thụ mà người d́ ghi nhớ như một điểm mốc về vị trí của ngôi mộ.

Kết quả đến thật bất ngờ như một sự linh hiển trước mắt khiến mọi người trong nhóm chấn động đến sững sờ. Ngay từ đầu chuyến đi, không ai kỳ vọng sẽ t́m được mộ mẹ của David với những chi tiết mù mờ như thế. Ở Kuku có hàng chục con suối và cả triệu cây rừng, biết đâu mà ṃ. Chúng tôi cũng không có một hướng dẫn cụ thể nào về phương hướng hoặc vị trí để t́m. Ngay cả David và nhạc phụ cũng chưa hề đặt chân đến đây lần nào để có thể h́nh dung lại khung cảnh gần 30 năm trước. Vậy mà...
Chúng tôi đứng ṿng quanh ngôi mộ, ôm nhau trong nỗi nghẹn ngào xúc cảm và chúc mừng anh đạt được ước nguyện. Và David, một doanh nhân thành công đă từng trải qua vô vàn gian nan lăn lóc trên đường đời từ thời niên thiếu mồ côi nơi xứ lạ quê người, chợt ôm mặt khóc rưng rức như một đứa trẻ thất lạc vừa t́m được mẹ...
Chúng tôi bày biện lễ phẩm để thực hiện nghi thức cầu siêu chung cho những người nằm lại nơi đây và giăng giây làm dấu mộ phần mẹ của David để ngày mai trở lại bốc mộ. Làn khói trắng êm đềm tỏa lên từ băi đất trống giữa núi rừng trùng điệp trên bầu trời xanh thẳm của buổi trưa đáng nhớ ấy đẹp như một bức tranh thoát tục, siêu nhiên. Có lẽ không một họa sĩ nào có thể vẽ được bức tranh đó bằng màu sắc trần gian mà chỉ chúng tôi mới có thể cảm nhận được nó trong ḷng...

Như đă ước định trước, tôi thổi những hồi c̣i báo tin cho nhóm thứ nhất nhưng không được đáp lại. Có lẽ anh Trưởng đoàn c̣n lặn lội phía bên kia đồi và không nghe thấy. Chặp sau, một người địa phương mà chúng tôi nhờ đi báo tin về đến và cho biết tin vui đă được nhóm của Trần Lăo Gia tiếp nhận với sự phấn khởi cao độ. Ít nhất, cho đến giờ phút đó, chúng tôi đă đạt được hai phần ba mục tiêu của chuyến đi ngay trong ngày đầu tiên, một "chỉ tiêu" không người nào dám mơ ước dù ai cũng âm thầm hy vọng. Phần c̣n lại là... ngon như cơm sườn, v́ phần mộ thân phụ của hai anh em Nhà họ Huỳnh có lẽ cũng dễ t́m được với những dấu tích và vị trí khá rơ ràng. Trước chuyến đi, Thế Trung - Thế Minh nói chắc ăn là sẽ t́m được, v́ chính hai anh em đă làm mộ cho cha bằng xi-măng vững chắc, cạnh sân chùa, trên sườn đồi, rất dễ t́m...

Chúng tôi lại vượt suối băng rừng lên đồi đến ngôi chùa Phật giáo theo sự dẫn đường của những người địa phương. Trời đă ngă về chiều và không khí trong rừng cũng bắt đầu nhuốm lạnh, muỗi rừng và những thân cây ngă đổ càng làm cho đường đi khó khăn trắc trở hơn.

Ngôi chùa khá rộng ngày xưa chỉ c̣n trơ nền đất, không c̣n nh́n ra chánh điện hoặc dấu tích ǵ của nơi thờ phượng, ngoài hai chiếc thùng phuy cắt ngang một nửa trước đây được dùng làm bồn hoa bây giờ đă hoen rỉ trước bậc tam cấp bên cổng. Cỏ dại và cây rừng đă tràn kín cả vùng khiến chúng tôi không thể mạo hiểm đi xa hơn vài chục mét.
Với những chiếc tu huưt và đèn pin cá nhân, chúng tôi chia thành hai tốp nhỏ bắt đầu t́m kiếm. Theo sự khẳng định của hai anh em họ Huỳnh, ngôi mộ thân phụ của họ nằm ở một vị trí rất gần chung quanh nền chùa. Lớp lá dầy ẩm ướt và những tảng đá rêu phong trơn trợt khiến tốc độ t́m kiếm chậm lại, nhưng đến khi sục sạo giáp ṿng khu vực chúng tôi vẫn không t́m thấy. Mỗi lần đi một lần khó, dễ ǵ có được cơ hội đến đây cả đoàn như thế này. Chúng tôi lại cố gắng lần nữa, soi đèn vào từng gốc cây, lật lên từng ḥn đá, cạo sạch từng mảng rêu... nhưng cũng không kết quả. Đành phải ngưng thôi, ngày mai trở lại t́m tiếp.

Nhóm của anh Trưởng đoàn gồm gần chục người (cộng với 4 người dẫn đường địa phương) cũng trèo đèo lội suối mấy đợt mới đến khu vực nghĩa trang phía sau băi trực thăng. Nhóm này cũng t́m thấy một cụm 5-6 ngôi mộ. Các bia mộ trong cụm này viết bằng tiếng Hoa nên không biết là phần mộ của ai. Sau này tra cứu lại với những bản họa đồ vẽ theo trí nhớ của những người từng ở Kuku trước đây, chúng tôi mới xác định được đây có lẽ là khu vực mai táng dành cho người Hoa. Khu nghĩa trang này cây cối um tùm chứ không được khai quang như khu vực gần chùa hoặc dưới băi tranh. Anh Trưởng đoàn cũng đă bày ra một bàn thờ lộ thiên cúng tế cho vong linh những người nằm lại trước khi trở về họp mặt với nhóm chúng tôi.

Cả đoàn tập họp kiểm điểm quân số ở băi biển quăng hơn bốn giờ chiều sau một ngày đă đời với nhang khói, bùn śnh và vài chiếc áo rách v́ vướng cây, ngă té. Báo cáo sơ khởi từ các nhóm cho thấy quân ta b́nh yên vô sự (thật ra, có vài người trầy sướt chút đỉnh), kết quả vượt chỉ tiêu (t́m thấy hai trong ba ngôi mộ muốn t́m), thu nhặt được một số di vật (gồm chai lọ, dép, chén...) và quan trọng hơn cả là hàng trăm tấm h́nh các ngôi mộ thuyền nhân VN ở Kuku.

(Sau chuyến đi, Văn khố Thuyền nhân VN được biết một gia đ́nh ở California, Hoa Kỳ, đă t́nh cờ nh́n thấy ngôi mộ người con gái của họ tên là Bùi Thị Thu Kiều khi xem cuộc phỏng vấn chị Vân Hải - từ Paris, Pháp quốc - trên đài SBTN và xem h́nh ảnh chuyến đi trên trang web của Cộng đồng Người Việt ở Paris. Người cha đă nghẹn ngào kể lại rằng chính ông đă tự tay khuân 16 ḥn đá từ dưới biển lên khu nghĩa trang để đắp quanh mộ phần của đứa con gái 16 tuổi qua đời hai ngày sau khi lên đảo. Lạ lùng thay, họ tên của cô gái vắn số vẫn c̣n tươi nét sơn trên chiếc thánh giá bằng gỗ dù đă trải qua hơn phần tư thế kỷ dăi dầu mưa nắng.)

Chúng tôi "tranh thủ nhúng nước" trên băi Kuku, nhiều người mặc nguyên bộ quần áo lội rừng, bơi ra chiếc ca-nô tốc hành thả neo chờ đợi từ sáng để trở về hậu cứ Letung. Chẳng ai c̣n nhớ đến "Thằng Mặt đen" hồi sáng, v́ sau những ǵ chúng tôi trải qua ngày hôm nay, mấy thứ vặt vănh ấy đều là… chuyện ruồi bu.

Buổi tối, chúng tôi được các quan chức trên đảo (gồm đại diện chính quyền, quân đội và cảnh sát) thết đăi một buổi dạ tiệc tiếp tân khá linh đ́nh. Không có ḿ xào ớt, cơm chiên ớt mà đầy ngập tôm hùm, ghẹ biển, cá tươi... Và có cả chất cay nữa, mà toàn là... thứ thiệt. Lại cái chàng "trùm ṣ" bấm đốt ngón tay lẩm nhẩm: "Thế này là đủ vốn rồi nhé! Mà chỉ mới nửa đường. Từ giờ, cuộc hành tỏi bao nhiêu là lăi đấy!" Chẳng ai hiểu anh ta hành tỏi giống ǵ, nhưng mọi người cứ... ngậm miệng mà nhai cái đă!

Giữa những lời chào mừng vui vẻ, bát đũa xôn xao và tiếng nhạc xập x́nh, chuông điện thoại của anh Trưởng đoàn cứ reo liên tục. Rất may, dù cách xa đất liền nhưng nơi đây không nằm "ngoài vùng phủ phê" mà c̣n lọt "trong vùng phủ song" nên vẫn liên lạc được với... thế giới bên ngoài. Các đài phát thanh Á châu Tự do RFA, BBC London và Little Saigon Radio gọi đến tới tấp để phỏng vấn về chuyến đi nhớ đời này. Trần Lăo Gia cứ như... gà mắc đẻ, v́ ổng vừa tiếp khách vừa trả lời các câu hỏi, vừa ngoắc người này vừa lôi kẻ nọ đến để kể lại những câu chuyện của họ với thính giả khắp năm châu.
Buổi tiệc rồi cũng tàn theo những đôi mắt nhướng hết lên và những bộ gị ră rời đang t́m nơi giăn gân. Lúc ấy đă gần hai giờ sáng...

Ngày 4 (13.04 Kuku - Letung): Hạnh ngộ tuyệt vời
Giấc ngủ thẳng cẳng và chầu điểm tâm "cải cách" với cháo cá và bún gà do bác Hồ Tắc (chủ nhà hàng ở Atlanta) đích thân vào bếp đă nạp đầy lại năng lượng tiêu hao trong mấy ngày qua. Tiếng cười đùa rộn ràng làm xao động không khí yên tĩnh của chiếc quán nhỏ trong ngôi làng chài hiền ḥa này. Sự thân thiện và ḥa đồng của chúng tôi với người địa phương đă xóa hẳn những ngăn cách và e dè lúc đầu. Vài người mang những vỏ ốc hoặc viên đá xinh xắn đến tặng làm kỷ niệm, ai cũng vẫy tay "hello" khi chúng tôi đi ngang. Và các em học sinh, trong những bộ đồng phục sạch sẽ và thẳng nếp, đă không c̣n ngại ngùng hoặc mắc cỡ khi nhận quà hoặc chụp h́nh với chúng tôi.

Cả đoàn hôm nay chỉ trang bị nhẹ v́ tất cả hành lư đều để lại nhà trọ. Những ngày trước, v́ chưa biết "đoạn đường chiến binh" sẽ cam go như thế nào nên ai nấy đều mang theo mọi thứ có thể vác trên lưng để pḥng hờ, từ lọ thuốc xịt muỗi đến... thỏi son môi. (Một ông nào đó trong đoàn đă "dại miệng" thốt lên rằng ở Kuku chẳng có khỉ để... làm điệu đâu! Trời hỡi, làm sao bụm miệng cho kịp. "Lời nói không mất tiền mua, liệu lời mà nói cho... vừa người nghe" chứ! Chẳng lẽ ổng không hiểu rằng đụng chạm đến mấy vụ này là một hành vi "phạm thượng" không thể tha thứ được sao? Từ đó đến cuối chuyến đi, đương sự bị "trừng phạt đích đáng" bằng biện pháp cúp hẳn phần ô mai xí muội dọc đường!).

Mọi người đều phấn chấn và sẵn sàng. Ai cũng biết, hôm nay là ngày N, cái "đích" của cuộc hành tŕnh. Chúng tôi đă thảo luận các phương án... hành quân, chia nhóm và phân công nhiệm vụ cho từng người từ tối hôm trước. "Mũi ai nấy thở" nhé, cứ thế mà làm. Anh Trưởng đoàn dặn đi dặn lại măi. Vậy mà các chị, các cô vẫn... tranh thủ đi xem ngôi chợ quê và mua sắm một ít đồ tươi trong khi chờ ca-nô tách bến. Cái "máu shopping" muôn thưở đó, buổi sáng hôm ấy như nhờ có... bà độ, đă mang lại một niềm vui tràn ngập và bất ngờ cho cả đoàn: một cuộc hạnh ngộ tuyệt vời với người cũ nơi cảnh xưa!

Lúc "rảo" chợ t́m mua trái cây, các cô Kim Vân, Xuân Hương, Ngọc Thúy... bỗng nghe từ phía sau lưng một lời chào hỏi bằng tiếng Việt với giọng miền Nam đặc sệt: "Các chị ơi, tới đây hồi nào dzậy? Ở lại lâu hông? Tôi giúp ǵ được hông?" Giọng nói ấy bộc lộ sự mừng rỡ pha lẫn chút thích thú. Quay lại, họ thấy một người đàn ông trung niên, khuôn mặt trí thức và trang phục lịch sự, đang đứng mĩm cười thân thiện. Các cô chưa hết ngạc nhiên th́ ông ấy tiếp: "Tôi là Adnan Nala, từng làm việc nhiều năm cho người tỵ nạn Việt Nam ở Kuku và Galang. Bữa nay tôi về Letung thăm gia đ́nh. Thấy mấy chị là người lạ và nghe nói tiếng Việt, tôi tới hỏi thăm... Thiệt là hên!"
Phong cách niềm nở, thái độ chân thành và gần gũi của Nala đă tạo nên một sự tin cậy tức khắc. Các cô tíu tít bắt chuyện và mời ông đến cầu tàu, nơi cả đoàn đang chờ đợi nhổ neo. Chẳng chút ngần ngừ, Nala vui vẻ nhận lời sau khi kín đáo ra hiệu cho mấy người đứng chung quanh (dường như là cảnh sát bảo vệ) cứ để ông tự nhiên đi một ḿnh. Cử chỉ ấy không thoát qua đôi mắt quan sát tinh tế của các cô. Họ có cảm giác đang tiếp xúc với một VIP dù không ai hỏi và cũng chẳng ai nói.
Cái duyên hạnh ngộ với Nala bắt đầu một cách đột ngột như thế và câu chuyện sau đó được kể lại về sự liên hệ của ông với thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam đẹp như một huyền thoại có thật trong đời. Khi chúng tôi mời Nala đến ăn tối với đoàn ở khu nhà trọ, ông thoáng lưỡng lự nhưng lại gật đầu ngay. Trên khuôn mặt ông lúc ấy phảng phất một nét bồn chồn mà măi đến buổi tối hôm ấy chúng tôi mới biết...

"Số 1, có! Số 2, có... Số 22, tây đui là... tui đây! Đủ rồi, bác tài. Nhổ neo!"

Chiếc ca-nô nhẹ nhàng rời bến, phóng ḿnh ra biển trực chỉ hướng Kuku. Hôm nay, ngoài đoàn chúng tôi c̣n có gần chục người khác - gồm các cảnh sát và lính Nam Dương đi theo bảo vệ. Chúng tôi cũng được khoảng 20 người địa phương từ Air Raya đến trước để giúp việc bốc mộ và hỏa thiêu di hài.

Theo sự phân công, chúng tôi chia làm ba cánh, "đánh" ba hướng khác nhau. Nhóm thứ nhất cùng đi với Băng 3T để bốc mộ chị Thu Minh trên đồi trực thăng. Nhóm thứ nh́ theo David và bác Hồ Tắc bốc mộ cho mẹ của David ở con suối cạnh băi tranh. Nhóm thứ ba đi với gia đ́nh Nhà họ Huỳnh tiếp tục t́m kiếm ngôi mộ thân phụ của Thế Trung và Thế Minh. Tất cả đều chuẩn bị khá kỹ (áo quần lao động, dụng cụ đi rừng, lễ phẩm cúng tế...).

Tôi cùng Mimi Đài Trang và Kim Vân theo nhóm đầu, đi với ba anh em Triệu - Tài - Tước lên đồi. Khoảng 10 người Nam Dương giúp việc đă chờ sẵn với đầy đủ cuốc xẻng, dao rựa. Sau nghi thức cầu nguyện ngắn, chúng tôi bắt tay ngay vào việc để tranh thủ thời tiết c̣n mát vào buổi sáng. Toán nhân công địa phương chặt bớt cây cành và mở rộng diện tích chung quanh ngôi mộ cho dễ làm việc. Anh Triệu lần dở từng tấm h́nh 27 năm trước để nhớ lại và cám ơn những người bạn đă giúp anh mai táng Cecile trên đảo. Tài và Tước cũng sắp đặt những vật dụng cần thiết cho lễ hỏa thiêu. Hai anh em đă chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho chuyến đi này từ Việt Nam. Họ mang theo cả chiếc xẻng cá nhân mới keng (loại có thể xếp gọn lại, như lính VNCH ngày xưa thường mang trên ba-lô hành quân), mấy lít rượu đế để rửa hài cốt và chiếc hủ đựng tro xương. Hai ông bạn này chu đáo... đến khiếp, từ việc mang (lén) bánh chưng dưa món ra nước ngoài để "chiêu đăi Việt kiều" đến chuyện đem theo cả cuốc xẻng và rượu đế lên máy bay! Cử chỉ ấy đă nói lên t́nh nghĩa gia đ́nh với người quá cố, dù cả Tài và Tước đều chưa từng gặp mặt chị Thu Minh lúc sinh thời.
(Một chuyện nhỏ ngoài lề: Nhiều người địa phương xăm xoi nh́n chiếc xẻng cá nhân với một vẻ thích thú đặc biệt. Họ ướm lời muốn xin hoặc mua chiếc xẻng ấy, nhưng Tài và Tước đều lắc đầu v́ muốn giữ nó như một vật kỷ niệm của chuyến đi).

Trái với sự lo ngại của chúng tôi, nơi an táng chị Thu Minh là một vùng đất sét pha cát khá xốp chứ không phải đá núi nên việc bốc mộ diễn ra khá êm xuôi. Dù vậy, anh Triệu đă bắt đầu đứng ngồi không yên khi những người phu đă đào sâu đến ngực, lưng áo đẫm ướt mồ hôi mà vẫn chưa thấy quan tài. Và họ cũng chẳng t́m được chiếc chai bịt kín mà anh đă ghi chi tiết của người quá cố chôn trước đầu mộ. Có lẽ nào...

Chúng tôi quyết định tạm ngưng để bàn bạc với nhau. Anh Triệu vẫn c̣n nhớ như in lúc quan tài của vợ được hạ huyện, chỉ sâu khoảng này mà thôi. Mọi người lại định thần và chuyên chú cầu nguyện. Hai cô Mimi và Kim Vân cứ thấp thỏm nắm tay nhau đi lên đi xuống từ đồi trực thăng, hỏi thăm và đem nước uống cho chúng tôi. (Sau này, hai cô mới "tự thú" rằng họ không dám chứng kiến cảnh bốc mộ v́... sợ. Ngay cả việc chụp h́nh lúc các phu mộ đang đào bới họ cũng lâm râm cầu nguyện và xin phép vong linh người quá cố.)

Đột nhiên, anh Triệu như sực nhớ một điều ǵ và yêu cầu toán phu mộ móc sâu qua phía tay phải. Quả nhiên, chỉ sau vài nhát xẻng, họ đă đụng ngay vách ván thiên. Tiếng bồm bộp dội lên từ ḷng huyệt làm anh Triệu chấn động, tay run lên suưt đánh rơi điếu thuốc đang hút dở. Anh chồm đến như muốn nhảy xuống để tận tay sờ vào chiếc áo quan. Tài và Tước xắn tay áo phụ giúp các phu mộ mở rộng chiếc hố từ phía trên. Chẳng mấy chốc, bốn vách quan tài hiện dần ra nhưng nắp ván thiên đă tiêu ră thành cát bụi dưới sức nặng của mô đất phía trên sau thời gian dằng dặc...

Th́ ra, lúc những người bạn của anh Triệu c̣n ở lại Kuku lập bia cho chị Thu Minh, họ đă cắm nó hơi lệch sang hướng trái nên khi các phu mộ đào thẳng xuống không đụng quan tài. Anh Triệu cũng nghĩ rằng những ân nhân chí t́nh đó của anh cũng đă hủy chiếc chai dấu tích sau khi họ thiết lập tấm bia mộ đàng hoàng cho chị.
Nhờ tấm bọc bằng nhựa khá dầy và chắc chắn của Cao ủy, chị Thu Minh được nằm trọn vẹn bên trong mà không bị xiêu lạc hoặc bị rễ cây đâm xuyên dù hài cốt đă phân hủy gần hết. Và, thật là một t́nh cờ mầu nhiệm, khi di thể của chị vừa được đưa lên khỏi huyệt mộ, trời bỗng đổ cơn mưa xối xả như để gội rửa thân thể lấm lem của những người phu mộ vất vả cả buổi sáng, để xóa tan những ḍng lệ thương cảm của người thân chất chứa bao tháng năm dài và để tắm mát một linh hồn vừa tái hợp với gia đ́nh sau cuộc phân ly đăng đẳng...

Trên nền xi-măng của băi trực thăng dưới cơn mưa nặng hạt, Tài và Tước tỉ mỉ t́m kiếm và thu nhặt những mẩu xương cốt c̣n lại của người chị vợ trong lúc anh Triệu thẫn thờ cầm những di vật của người bạn đời vừa t́m được trong chiếc bọc. Đoạn phim cũ của thời điểm đau buồn đó cứ chiếu lại trong tâm trí anh, đứt quăng nḥe nhoẹt mà tươi nguyên như mới hôm qua...

Chiếc gương, cây lược và những bộ áo quần đó kéo anh về quá khứ của một tuần trăng mật tuyệt vời và gần hai tháng lo âu, khủng hoảng đến gần suy sụp trên đảo Kuku 27 năm trước. Tai anh vẫn văng vẳng lời nhắc nhở của cô bé 14 tuổi đi cùng ghe tên Hiền lúc anh như kẻ mất hồn v́ sự ra đi quá thương đau của chị: "Anh Triệu nhớ đem theo áo quần, gương lược cho chị Minh xài..."

Bé Hiền ơi, anh Triệu đây! Anh vẫn c̣n nhớ vóc dáng nhỏ nhắn của em cẩn thận gói ghém những vật dụng đó cho chị Minh lúc anh vô cùng bối rối trước cảnh sinh ly tử biệt. Bao nhiêu năm nay, chị đă có gương lược bầu bạn và có cả sự chăm chút ấm áp của đứa em nhỏ trong phút lâm chung, dù hai chị em chỉ quen biết nhau trong thời gian ngắn ngủi trong hoàn cảnh thiếu thốn mọi bề của cuộc đời tỵ nạn. Bé Hiền ngày nào ơi, bây giờ anh đă gặp lại chị Minh ở nơi chốn ngút ngàn kỷ niệm hạnh phúc lẫn đau thương của cả một đời người. Hăy cho anh gửi một lời cảm ơn từ đáy ḷng.

Đang miên man trong nỗi hồi tưởng về quá khứ, anh Triệu chợt bừng tỉnh v́ lời gọi của Tài: "Anh Triệu, chiếc nhẫn của chị nè..." Tài đă biết chuyện người anh cột chèo của ḿnh quyết định để nguyên chiếc nhẫn cưới trên bàn tay của vợ khi anh vĩnh biệt chị. Hai anh chị là những con chiên thuần thành và họ đă sống đạo một cách trọn vẹn theo lời dạy trong Kinh Thánh: "Sự ǵ Thiên Chúa đă kết hợp, loài người không được phân ly". Với suy luận tự nhiên, Tài t́m thấy chiếc nhẫn ngay vị trí bàn tay trái của di hài dù xương cốt phần cơ thể này đă tiêu tan vào ḷng đất.
Thực sự, sau khi t́m được gương và lược, anh Triệu vẫn chưa "chắc ăn" rằng bộ hài cốt trong tấm bọc nylon là di thể của vợ, v́ trong vài ngày qua chúng tôi đă tận mắt chứng kiến nhiều sự kiện huyền nhiệm không thể giải thích được. Anh vẫn c̣n âm thầm chờ đợi một xác định cuối cùng. Anh căn dặn Tài và Tước cả chục lần: "C̣n chiếc nhẫn cưới nữa!" Và khi Tài t́m thấy nó, anh đă thở phào như trút ra tất cả những ưu tư chất chứa từ đầu chuyến đi...

Ôi, bằng chứng kết ước của t́nh nghĩa vợ chồng vẫn c̣n nguyên vẹn. Anh Triệu cầm lấy chiếc nhẫn c̣n dính đất và đeo ngay vào tay ḿnh, như thể không c̣n chờ đợi thêm một giây nào nữa! Anh kể lại rằng anh đă giữ lại và đem theo bông tai và dây chuyền của chị như một kỷ vật v́ sợ người chết bị quấy nhiễu bởi những kẻ đạo chích vô lương muốn quật mộ để t́m vàng. Riêng chiếc nhẫn này anh quyết định chôn theo chị như lời nguyện chung thân của hai người trong ngày hôn lễ. Chiếc nhẫn đó sẽ nằm trong hủ cốt của chị khi anh đưa chị về Việt Nam.

Trong lúc anh Triệu và Tước tiếp tục thu nhặt và rửa sạch hài cốt, tôi cùng với Tài và toán nhân công địa phương trở lại mộ phần của chị Thu Minh để lấp lại huyệt mộ. Theo ư nguyện của gia đ́nh, mộ bia cùng với tấm bọc Cao ủy và rễ cây trong đó được gửi lại xuống ḷng huyệt như một lời tạ ơn đất trời Kuku về sự nương náu xác thân từ 27 năm qua.

Trên đường về băi trực thăng, những người phu mộ chỉ cho tôi thấy một lơm đất trũng cách đó không xa. Đó là ngôi mộ của một thuyền nhân VN được hốt cốt cách đây khoảng một năm bởi thân nhân từ Hoa Kỳ. Sự kiện này được xác định khi chúng tôi trở về Letung và t́m thấy trong thời gian đó có tên 5 người Việt trong danh sách khách trọ nơi chúng tôi đang trú ngụ.

Sau lễ tạ từ, nhóm chúng tôi xuống băi biển để thực hiện cuộc hỏa thiêu hài cốt. Những người địa phương, qua sự thu xếp của công ty du lịch, đă đào hai cái hố cát h́nh chữ nhật sâu khoảng một mét, chất sẵn củi khô phía dưới và một b́nh dầu lửa. Họ chỉ yên lặng theo dơi cuộc hỏa thiêu mà không góp tay, có lẽ một phần v́ tôn trọng niềm tin tôn giáo hoặc t́nh cảm gia đ́nh và phần khác, họ cũng chẳng biết phải làm ǵ v́ chưa hề chứng kiến một nghi thức như thế.

(C̣n nữa)
__________________

A straightforward solution gives extreme effectiveness.
Reply With Quote
  #4  
Old 07-23-2009, 08:20 PM
SilverBullet's Avatar
SilverBullet SilverBullet is offline
Mightier Than Sword
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 1,958
Thanks: 2
Thanked 13 Times in 11 Posts
Default Re: Kuku, nhật kư thăm lại ḥn đảo tỵ nạn ở Nam Dương

Kuku, nhật kư thăm lại ḥn đảo tỵ nạn ở Nam Dương (Phần kết)

Lưu Dân


Trong nhóm chúng tôi cũng không ai từng thực hiện hoặc chứng kiến sự hỏa thiêu hài cốt bao giờ nên chẳng biết tiến hành thế nào. Riêng tôi vài lần được nghe thoang thoáng nhưng trong hoàn cảnh này, có lẽ là người "rành" nhất. Chúng tôi lại bàn với nhau và anh Triệu cũng đồng ư là mọi việc cốt ở tấm ḷng, không nề hà thủ tục ǵ cả.

Rồi chúng tôi bày ra b́nh hương giữa trời, tang chủ cáo tế trời đất để xin hỏa thiêu di hài và mỗi người một nén nhang cầu nguyện cho linh hồn Cecile siêu thoát. Bộ hài cốt của Cecile Thu Minh được nhẹ nhàng đặt lên trên lớp củi ẩm ướt v́ mưa và được mồi bằng dầu hỏa. Ngọn lửa hồng tươi bùng lên và hài cốt dần dần biến thành tro trắng sau khoảng hơn một giờ hỏa thiêu... Ba anh em hốt nắm tro xương và nén lại trong một chiếc túi nhỏ trước khi bỏ vào hộp plastic mà Tài và Tước mang theo từ Việt Nam. Những tro vụn và tàn củi c̣n sót lại được gom vào hai chiếc bao lớn mang theo lên ca-nô để rải xuống biển trên đường về Letung.

Trong lúc cánh thứ nhất "hành quân" trên đồi, hai nhóm thứ nh́ và thứ ba (do anh Trưởng đoàn dẫn đầu, gồm hai gia đ́nh Trung - Minh - Thanh và David Lư - Hồ Tắc cùng các anh chị em khác trong đoàn) "tảo thanh" các khu mộ địa phía dưới. Họ quyết định đi chung với nhau thay v́ tách làm hai, v́ cùng theo một hướng.

Đường ra khu mộ khá vất vả. Họ phải băng ngang một con suối nhỏ, mực nước khoảng lưng chừng ống quyển. Chàng nào muốn làm "người hùng cơng giai nhân qua bờ suối" cũng không được, v́ chính bản thân ḿnh c̣n lo chưa xong. Giày vớ bị ướt là... chuyện nhỏ. Hôm nay là ngày thứ nh́ ở Kuku, thân thể c̣n không kể số ǵ th́ giày vớ đâu thuộc vào diện... ưu tiên bảo toàn. Lên dốc con suối hơi khó v́ bờ suối đứng thẳng và cao hơn một mét. Vài người địa phương băng qua trước và họ vịn cây, nắm tay kéo lên... từng em một, v́ dù bạn có mang loại giày thể thao tốt nhất của siêu cường Mỹ cũng không thể bám vào vách đất như bàn chân trần của họ được.

Ra tới khu nghĩa trang nơi có mộ của mẹ David, chúng tôi thấy người địa phương đă phát quang một khoảng trống chừng trăm mét vuông. Trong khi chờ mọi người tới đủ, Trần Lăo Gia đi một ṿng chụp h́nh. Không có mộ nào có h́nh dạng một ngôi mộ b́nh thường như người ta vẫn nh́n thấy. Tất cả chỉ là những gộp đá có đánh dấu trên đầu ngôi mộ, chúng tôi nghĩ như thế, v́ có cục đá c̣n dấu sơn đỏ. Một ngôi mộ kế bên có vẻ như bị sụp v́ giữa mộ bị lơm xuống chừng 3 - 4 tấc.

Cả nhóm quây quần góp tay bày biện lễ phẩm cúng tế trên đầu ngôi mộ mẹ của David. Trước khi xướng kinh cầu nguyện, anh Trưởng đoàn cùng bác Hồ Tắc kiểm lại lần cuối các chi tiết trên tấm bia. Bia ghi bằng Hán tự tên họ và ngày tháng qua đời là Trịnh Đinh Hằng, chết ngày 31.07.1979 (lúc ấy 44 - 45 tuổi). Như vậy, tính đến ngày t́m thấy ngôi mộ, bà đă được an táng gần đúng 30 năm.

Sau khi khẳng định đúng với mọi chi tiết là mẹ của David, anh Trưởng đoàn khấn vái vong linh người quá văng: "Thưa chị, tôi là Trần Đông, Giám đốc Văn khố Thuyền nhân Việt Nam, cùng các anh chị em đến đây để t́m kiếm mộ phần của thuyền nhân và thăm lại di tích của người tỵ nạn VN. Cùng đi trong đoàn có David, ở tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ, là con của chị. Cháu lặn lội đường xa ngàn dặm đến đây t́m mộ phần mẹ để đưa di hài của chị về Hoa Kỳ. Thay mặt cho tất cả anh em trong đoàn, tôi xin khấn báo với chị và xin phép được rước hài cốt chị lên để hỏa táng và đưa về đoàn tụ với gia đ́nh. Kính cầu nguyện vong linh của chị và cầu nguyện ơn trên gia hộ cho chị được yên nghỉ nơi cơi vĩnh hằng. Xin chị gia hộ cho đoàn được yên ổn và t́m được nhiều mộ phần thuyền nhân VN như mong ước."

Sau tuần nhang khấn báo và đốt giấy vàng bạc theo nghi thức của người Hoa, David cầm cuốc khai mộ với ba nhát cuốc đầu tiên trước khi các phu mộ địa phương tiếp tay anh thực hiện việc khai quật. Họ đào chỉ hơn năm tấc th́ t́m thấy quần áo. Thêm chút nữa thấy những lớp đất đổi màu đen. Theo kinh nghiệm của các phu mộ, đó có thể là phần tan rửa của di hài. Họ tiếp tuc đào sâu thêm hơn một mét và mở rộng ḷng huyệt đến hai mét nhưng vẫn không t́m thấy được chút xương nào.

Tuy cực nhọc - lúc ấy, trời lại đổ cơn mưa lớn - nhưng những người địa phương đă tỏ ra hết sức tận tụy với công việc. Họ không ngại ướt lạnh hoặc nhớp nháp mà chỉ cố làm cho được việc v́ cảm động trước tấm ḷng hiếu thảo của một đứa con và t́nh nghĩa đồng bào của người Việt Nam.

Mưa càng lúc càng nặng hạt. Chúng tôi phải căng một chiếc bạt lớn để che tạm trong lúc David và các phu mộ vẫn dầm mưa tiếp tục công việc. Giờ trưa, mọi người ngồi ăn trong lều. Buổi ăn trưa đơn giản nơi hoang dă, chỉ ḿ xào và nước lọc. Anh Trưởng đoàn nới đùa với mọi người: "Thật hoàn toàn không thể tin nổi có những người bỏ hàng ngàn đô-la đi nửa ṿng trái đất vào nơi cùng trời cuối đất này, đội mưa ăn cơm tay cầm như thế này, mà lại c̣n đ̣i tổ chức để đi nữa!"

Mọi người đều cười: "Như vậy mới có nhiều kỷ niệm!"

Cuối cùng David đành phải đầu hàng hoàn cảnh. Anh tự an ủi rằng mẹ ḿnh ở đây lâu quá, con cái không biết chỗ và không ngờ ḿnh lại t́m được đường đến đây. Bà có bạn bè ở đây nhiều và chắc đă quen chỗ nên nên không muốn "định cư" ở đâu nữa. David gom lại mấy mảnh áo của mẹ ra biển giặt rửa rồi đem hỏa táng, trong chiếc hố thứ nh́ tại băi biển, bên cạnh nơi vừa hỏa thiêu hài cốt của chị Thu Minh. Ngôi mộ mẹ của David được đắp đất trở lại và tấm bia được dựng lên ngay vị trí cũ.

Khi cuộc khai mộ mẹ của David bắt đầu, một toán 6 người khác lên đường đi t́m mộ Ba của Trung - Minh ở cách đó không xa. Cùng đi với toán này có 3 người địa phương dẫn đường. Nhóm này đi từ mé bên trái của nền chùa, nh́n ra hướng băi biển nơi Trung và Minh chắc chắn là khu vực mộ phần của Ba ḿnh ngày trước. Cả hai anh đều khẳng định nơi đây là vị trí ngôi mộ của cha, v́ chính họ đă tự tay xây mộ và thăm viếng hàng ngày trong mấy tháng ở đảo. Nhóm Trung - Minh t́m quanh cả tiếng đồng hồ nhưng tuyệt nhiên không thấy một chút dấu tích nào của một ngôi mộ xi măng. Từ trước khi khởi hành chuyến đi, ai cũng tin rằng ngôi mộ của Nhà họ Huỳnh có nhiều hy vọng t́m thấy nhất v́ mọi chi tiết về vị trí và dấu tích đều rất rơ ràng nhưng, có lẽ do ước muốn của người quá cố, chúng tôi đành đốt nén nhang từ biệt và hẹn sẽ có cơ hội trở lại t́m kiếm thêm một lần nữa.

Như dự định, cả đoàn tập trung tại băi biển vào quăng ba giờ chiều khi mọi việc cũng vừa hoàn tất. Chúng tôi tận dụng thời gian c̣n lại tản ra chung quanh khu vực văn pḥng Cao ủy và bệnh viện cũ để t́m kiếm di vật thuyền nhân với ước vọng sẽ thành lập một viện bảo tàng (hoặc nơi lưu giữ những chứng tích đó) cho các nhà viết sử hoặc cho những thế hệ sau. Tuy thời gian đă xóa nḥa gần hết dấu vết của người tỵ nạn trên ḥn đảo này nhưng chúng tôi cũng c̣n t́m được những đoạn giây neo, vài chiếc dép nhựa và những mảnh chén bát c̣n sót lại trong các dăy barrack ngày xưa...

Chiếc ca-nô đưa chúng tôi quay về Letung khi trời đă bắt đầu xế chiều. Dù vậy, để "kiếm chút lời", nhóm từ Âu châu lại "ṿi" thêm phần bonus: ghé ngang qua băi Kuku 2 để... nhúng ḿnh năm phút. Chả là họ đă từng sống một khoảng thời gian đáng nhớ ở băi này nên tận dụng cơ hội... ba mươi năm một lần để sống lại giai đoạn đầy kỷ niệm đó. Mọi người ô-kê cái rụp và viên tài công cũng cười toét miệng gật đầu. Làn nước trong xanh mát rượi và tiếng cười đùa vui vẻ của chúng tôi như truyền nhiễm và làm lay động đến cả những cây dừa cao ngất cô đơn c̣n sót lại trên băi...

Hoàng hôn xuống thật nhanh trên biển. Chúng tôi về lại Letung khi trời đă sẫm tối. Cứ như các hướng đạo sinh đi "trại chạy", mọi người chỉ kịp dội qua loa vài gáo nước lạnh cho trôi lớp muối biển trên thân thể trước khi tập họp tại "quán đầu ngơ" cho buổi cơm tối. Đêm nay, chúng tôi có những người khách đặc biệt: viên cảnh sát trưởng Letung, vị sĩ quan chỉ huy lực lượng quân sự trên đảo, xếp bến tàu "Mặt Đen" (cũng được mời... cho phải phép) và Adnan Nala, một người mà thực t́nh cho đến lúc đó chúng tôi cũng chưa biết ông đang làm ǵ.

Buổi ăn tối trong chiếc quán b́nh dân rộn ràng tiếng nói cười nhưng cũng đậm đà t́nh cảm với Nala (ông muốn chúng tôi gọi tên như thế cho thân mật). Chúng tôi ôn lại những kỷ niệm cũ ở các trại Air Raya, Kuku, Galang... như thể các câu chuyện đó vừa xảy ra hôm qua. Những tên cảnh, tên người một thời từng là niềm an ủi, là nguồn hy vọng của người tỵ nạn cũng được ưu ái nhắc đến dù họ vắng mặt; như các nhân viên định cư người Nam Dương của Cao ủy Tỵ nạn LHQ (UNHCR): chàng Martin tóc quăn tốt bụng hút thuốc như khói tàu (được tin đă qua đời cách đây 3 năm v́ bệnh gan), cô Chandra tṛn trĩnh thường phát kẹo cho con nít (nghe rằng đang là một nhà ngoại giao ở tận Dubai), ông George mập vui tính luôn t́nh nguyện báo tin mừng cho những người "bị đá" (cũng được biết đang là một công chức cao cấp ở thủ đô Jakarta) v.v...

Cả một trời quá khứ hiện về trong chiếc quán ấm cúng ở ngôi làng chài này. Nó hiển hiện trước mắt trong giọng kể bùi ngùi của Adnan Nala, người từng sống một cuộc đời đẹp hơn bất cứ quyển tiểu thuyết nào mà bạn đă đọc. Đêm nay, người đàn ông có khuôn mặt dày dạn phong sương với nụ cười hồn nhiên như trẻ thơ đó đang ngồi cạnh chúng tôi...

Hơn 30 năm trước, Nala là một sinh viên trẻ trung yêu đời ở thủ đô Jakarka với cả chân trời tương lai rộng mở trước mặt, nhưng không ngờ cuộc đời anh rẽ sang một hướng hoàn toàn không định trước bởi một mẩu tin nhắn từ người d́ ruột ở ḥn đảo Letung xa xôi tít mù này.

"Cháu ơi, nhân dịp mấy tuần nghỉ hè, hăy về đây... Gấp lắm cháu ạ, hàng ngày có cả chục, cả trăm người chết... xác tấp vào bờ hoang, xác trôi bập bềnh giữa biển, xác nằm vắt trên ghe... thảm lắm! Họ là những người chạy nạn từ Việt Nam, bỏ hết tất cả, bất chấp băo tố biển khơi và đói khát để t́m một cuộc sống tự do... D́ cũng đang giúp đỡ, an ủi họ... Sắp xếp về ngay cháu nhé, gấp lắm! D́ mong cháu sẽ góp tay xoa dịu phần nào nỗi đau khổ này..."

Với chiếc túi vải đựng bộ đồ đi đường và vài ba quyển sách, Nala rời căn pḥng trọ êm ấm ở thủ đô để đáp tàu về quê ngoại ngay hôm sau. Chàng sinh viên ăm ắp lư tưởng nhân văn ngày đó chỉ tưởng "công tác nhân đạo t́nh nguyện" trong vài tuần nghỉ hè nhưng cuối cùng anh đă dành trọn cả tuổi thanh xuân của ḿnh - suốt gần 20 năm trời chứ ít ǵ - để góp phần làm vơi bớt nỗi khổ đau thăm thẳm của thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam.

"Ngày rời Jakarta tôi không mang theo ǵ cả, v́ đâu có ngờ ḿnh sẽ không bao giờ trở lại căn pḥng trọ sinh viên độc thân rất vui vẻ đó... Sau mấy tuần hè, tôi không thể nào đành ḷng trở lại học hành khi mỗi ngày vẫn c̣n thấy thảm kịch con người tiếp diễn trước mắt, ở ngay Letung này chứ đâu xa - và những ḥn đảo kế cận như Air Raya, Air Biru, Berhala, Keramut... Trong mấy năm đầu, mỗi ngày tôi bế trên tay ḿnh ít nhất một người chết v́ kiệt sức hoặc bệnh tật trên đảo, hoặc những xác thuyền nhân trôi giạt vào bờ. Cứ như thế, thời gian vẫn vô t́nh trôi qua với những chuyện dồn dập từng ngày. Một tháng, rồi một năm, rồi vài ba năm... cho đến khi giai đoạn cao điểm tạm lắng xuống, đầu tôi chỉ c̣n vài cụm tóc lưa thưa. Trong thời gian đó, tôi học tiếng Việt và được tuyển dụng làm nhân viên cứu trợ khẩn cấp của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR). Tôi là người đầu tiên khánh thành văn pḥng UNHCR ở Tanjung Penang và cũng là người cuối cùng đóng cửa cơ quan này hơn 20 năm sau...

"Không... Tôi không kể câu chuyện này để gợi lại những đau thương mất mát quá lớn của người tỵ nạn Việt Nam thời đó, nhưng thực sự tôi đă khóc v́ vui mừng khi gặp lại các bạn sáng nay. Hẳn là linh hồn của những người nằm lại ở đây sẽ được an ủi rất nhiều v́ các bạn đă không quên họ... Nếu được sống một cuộc đời khác, tôi chỉ xin giữ lại thời gian đáng nhớ và đầy t́nh người đó..."

Với một giọng kể đầm ấm và thân mật, Nala cười vui tiếp:

"Nhưng cũng nhờ cơ duyên làm việc cho người tỵ nạn, tôi mới bị... 'kẹt luôn' ở đây. Tôi kết hôn với một cô giáo làng Letung ngoan hiền và xinh đẹp. Chúng tôi sống hạnh phúc với nhau gần 20 năm qua. Hôm nay, tôi về đây thăm gia đ́nh và t́nh cờ gặp lại các bạn. Có lẽ, cái duyên của tôi với người Việt Nam chưa dứt!"

Cái duyên đó, ngay trong buổi tái ngộ trên ḥn đảo Letung này, chúng tôi hân hoan đón nhận một tin vui cũng hết sức bất ngờ: trong lúc chúng tôi c̣n tất bật khai quật và hỏa thiêu hài cốt ở Kuku, Adnan Nala được chính thức xác nhận đă đắc cử dân biểu của Quốc hội bang Tanjung Pinang! Thảo nào, ông đă nén lại sự sốt ruột sùng sục khi đến thăm chúng tôi ở cầu tàu vào buổi sáng. Chúng tôi càng cảm kích nghĩa t́nh đó khi biết tối hôm nay, ông đă phải từ chối nhiều lời mời mọc liên hoan khác để đến dự buổi cơm thân mật với chúng tôi trong một quán b́nh dân bên đường, kể lại chuyện tỵ nạn - bằng tiếng Việt rặc giọng miền Nam và rất đúng văn phạm - mà tṛng mắt đỏ hoe...

(Cuộc hạnh ngộ với Nala khiến tôi bùi ngùi nhớ đến Alcoh Wong, một đại ân nhân khác của người tỵ nạn Việt Nam ở Mă Lai và cũng là một người đỡ đần rất nhiều cho công tác của Văn khố Thuyền nhân Việt Nam. Là một sử gia gốc Hoa ở Terrenganu, ông Wong cũng đă dành gần trọn cuộc đời trưởng thành của ḿnh cho việc cứu giúp, chôn cất và ghi chép thảm kịch con người này trong gần ba thập niên, từ khi thuyền nhân Việt Nam đầu tiên đặt chân lên trại tỵ nạn Bidong năm 1977 cho đến khi ông qua đời v́ một cơn bạo bệnh cách đây hơn ba năm...

Trong suốt thời gian dài dặc đó, ông Wong đă bôn ba khắp nơi để gơ cửa xin các cơ quan từ thiện cứu trợ cho người tỵ nạn, đă lặn lội đến mọi băi biển ở Mă Lai mỗi khi nghe tin có xác thuyền nhân Việt Nam trôi dạt vào bờ, đă ghi chép bất cứ chi tiết nào có được của người xấu số để chôn cất, lập bia và in sách cho thân nhân t́m kiếm về sau... Ông đă làm tất cả những việc đó trong âm thầm, bằng thời giờ và tiền túi của ḿnh, mà không mảy may mong chờ một sự đền đáp. Bây giờ, Alcoh Wong đă vĩnh viễn ra đi, nhưng chắc chắn h́nh ảnh của ông vẫn sống măi trong ḷng những người từng thọ ơn ông...)

Buổi cơm tối với liều lượng vitamin t́nh cảm tràn đầy cùng Nala đă gội rửa sạch sẽ hai ngày dăi dầu mưa nắng ở Kuku. Chúng tôi hầu như đă gửi lại trên ḥn đảo ấy những niềm vui nỗi buồn của thời long đong tỵ nạn, để chỉ c̣n trân trọng nâng niu giờ phút quư giá bên nhau giữa những người tuy không cùng nguồn gốc chủng tộc - văn hóa nhưng lại vô cùng gần gũi trong t́nh người và lẽ sống.

Tối nay, anh Trưởng đoàn tuyên bố... xả giới nghiêm, mọi người có thể tha hồ "chơi xả láng, sáng dậy... trễ", v́ ngày mai là một chương tŕnh hoàn toàn tự do để thư giăn và... phục hồi công lực. Khỏi cần nói, xếp ơi! Thấy ông bận bịu quá nên tụi tui đă tự động chuẩn bị đâu vào đấy cả rồi. Út Hùng ra chợ đẩy về một xe cút kít đầy... bia Tiger. Bác Hồ Tắc vào bếp trổ tài nấu cà-ri cá đuối làm mồi. Bạn Văn Nam ḷng ṿng kiếm được một chiếc guitar từ thời Suharto mới lên cầm quyền. Cô nương Mimi rảo trong xóm rủ rê các em thiếu nhi đi xem "văn nghệ quốc tế". Ông nhà báo Lựu Đạn đóng vai chủ xị, ai lạng quạng là phạt... chết liền! Và toàn thể anh chị em trong đoàn - không chừa người nào - đều trở thành "ngôi sao một đêm" của xóm chài Letung, nơi chúng tôi so sánh một cách lăng mạn (có kẻ xấu miệng lại bảo là lăng... xẹt!) như một Venice của Á châu.

Sân khấu (kiêm bàn nhậu) là phần sàn gỗ trước căn nhà trọ "tổng hành dinh" của đoàn. (Bây giờ nghĩ lại mới thấy... ớn. Rủi bửa đó có chàng nào xỉn xỉn mà "ôm trăng đánh giấc" dưới nước như nhà thơ Lư Bạch th́ khốn!). Hai hàng ghế dài bày ra, lổn ngổn ở giữa là... bánh phồng cá, cà-ri cá và những thứ đồ nhậu không tên khác. Mọi người cứ "tự nhiên như ruồi" chứ chẳng có màn... nhà hàng hết ḷng phụ vụ quư khách đâu nghen!

Khán thính giả bao gồm cả các vị "đại diện" (dịch nôm na là... tai to mặt lớn) chính quyền và quân đội trên đảo - kể cả "Thằng Mặt Đen" bây giờ cũng nhập ṣng và đă góp phần tŕnh diễn vài bài hát khá hay - và... một bầy tang t́nh con nít! Thành phần "diễn viên và ca sĩ chủ lực" không ai khác hơn là... tụi tui, dù chẳng mạng nào qua trường lớp ca hát đâu cả nhưng đă "xuất thần" chẳng kém các thí sinh chung kết của American Idols! Nếu có ai muốn đánh đổi buổi văn nghệ ngẫu hứng đó bằng bất kỳ chiếc vé đại nhạc hội thượng hạng nào trong các hí viện "hoành tráng" nhất ở Úc, Đức, Pháp hay Mỹ với sự hiện diện của các siêu sao "vào cầu rực lửa" lừng danh thế giới, tôi chắc rằng chẳng ai trong đoàn... thèm vào!

V́ dễ ǵ bạn nghe "Khúc hát Air Raya" (một trong những nhạc phẩm đầu tiên được viết bởi chính người tỵ nạn VN ở hải ngoại) từng được sáng tác ở ngay trên ḥn đảo này hơn 30 năm trước, dễ ǵ có cảm xúc bồi hồi "Trở về mái nhà xưa" bởi giọng ca rè của cựu ca truởng Ca đoàn (V)ô nhiễm Nguyễn Triệu, dễ ǵ được quằn quại cùng "Nửa hồn thương đau" với Oanh Oanh, dễ ǵ có cơ hội được thưởng thức các "tài năng trẻ" mới vừa "xuất khẩu" từ trong nước (không theo Nghị quyết 36) của Tài và Tước... Rồi được cười lộn ruột với những vũ điệu sút quần của cựu cán bộ nông thôn Hồ Tắc, với những mẩu chuyện tiếu lâm mặn hơn nước biển của ông già làm báo. Và những "mầm non văn nghệ" ở tuổi... tri thiên mệnh; như Đ́nh Chung, Ngọc Thúy, Kim Vân...

Nhưng xuất sắc nhất vẫn là những giọng ca hồn nhiên trong sáng của các em nhỏ Letung trong những bài dân ca Nam Dương tuyệt vời. Chỉ nh́n các em say sưa đánh đàn gơ trống (trên chiếc can nhựa đựng nước) với tất cả sự nhiệt t́nh và ngây thơ của tuổi trẻ, đám người lớn chỉ biết... lắc đầu chào thua. "Thôi tiếc mà chi, than mà chi..." Thời của các bác, các chú, các cô đă qua rồi! Giấc mơ trở thành ca sĩ xin vui vẻ nhường lại từ đây...

Rồi buổi tiệc cũng tàn. Chiến trường la liệt xác... quân ta. Làng chài yên ắng trở lại. Khi thu dọn "sân khấu về khuya", tôi đă nghe tiếng gà gáy sáng và lác đác đă có người đẩy ghe ra biển, bắt đầu một ngày mới cho cuộc sống b́nh dị của người dân địa phương như từ bao đời nay...

Ngày 5 (14.04: Berhala - Air Biru): Quê người chạnh nhớ...

Tuy là ngày "sinh hoạt tự do" trong chương tŕnh nhưng chúng tôi cũng đă tận dụng thời gian để... đi cho biết đó biết đây. Theo lời chỉ dẫn của người dân địa phương, cả đoàn rủ nhau đi bộ đến đảo Berhala kế cận, nơi được biết có vài chục ngôi mộ thuyền nhân VN an táng từ gần 30 năm trước. Nghe "đi bộ đến đảo" có vẻ hơi... là lạ, nhưng thật sự là vậy. Một chiếc cầu đá dài và vững chắc đă được xây từ nhiều năm trước (sau thời người tỵ nạn VN đến đây) nối liền Letung với Berhala cho người đi bộ. Xe hơi nhỏ cũng có thể chạy trên chiếc cầu.

Trên đảo Berhala chỉ có vài ngôi nhà và một đài hải đăng hướng dẫn tàu bè quốc tế qua lại trên vùng biển này. Nơi đây cũng rất gần với hải phận quốc tế và là một "khu vực nhạy cảm" trong t́nh h́nh tranh chấp lănh hải hiện nay giữa những quốc gia lân cận, đặc biệt là từ khi Trung Quốc công bố "bản đồ lưỡi ḅ" dành phần chủ quyền của họ trên Biển Đông. Chính phủ Nam Dương không ồn ào tranh căi về tham vọng bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán từ phương Bắc nhưng rơ ràng họ đă khẳng định tư cách chủ nhân của ḿnh bằng hành động. Chiếc cầu Berhala và lá cờ đỏ trắng trên đỉnh đảo là một tuyên ngôn không lời, nhưng rơ ràng và quyết liệt biểu hiện ư chí bảo vệ giang sơn của họ.

Chúng tôi đi bộ trên chiếc cầu với một tâm trạng nao nao khi nghĩ về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phần lănh thổ của tổ quốc nằm rất xa nơi đây đang bị nuốt chửng thô bạo bởi những kẻ từng một thời tự coi như "vừa là đồng chí, vừa là anh em" với chế độ đương quyền ở quê nhà. Tự dưng, chẳng ai bảo ai, những khúc dân ca, những bài hát đánh thức ḷng yêu nước và t́nh tự dân tộc được cất lên, say sưa và xúc cảm, cứ như chúng tôi đang đi trên con đường cái quan Việt Nam...

"Tôi đi từ Ải Nam Quan qua vài ngàn năm lẻ...", "Anh em ta cùng mẹ cha, nhớ chuyện cũ trong tích xưa khi thế gian c̣n mù mờ...", "Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn, đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang...", "Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi! Ai chiến thắng không hề chiến bại..."

Dường như trời mây non nước Nam Dương cũng cảm thông với tấc ḷng hoài quốc của đoàn lữ khách. Ánh nắng buổi sáng nhiệt đới có phần dịu xuống trên lưng áo đă bắt đầu rướm mồ hôi của chúng tôi.

Hôm nay, chúng tôi may mắn gặp được người con trai duy nhất của ông, một Mục sư hiền lành và thân thiện. Ông nói tiếng Anh khá thông thạo nên chúng tôi cũng đỡ... mỏi tay. Ông kể lại nhiều kỷ niệm thời niên thiếu của ḿnh với người tỵ nạn VN và cho biết ông sẽ hiến tặng phần lớn đất đai của ḿnh để xây trường tiểu học và bệnh xá cho dân địa phương, chỉ giữ lại một khoảnh nhỏ có phần mộ của thân phụ và các thuyền nhân VN trên đỉnh đồi...

V́ không có người chăm sóc trong nhiều năm nên các phần mộ của thuyền nhân VN bị xiêu lạc, mất dấu. Chúng tôi chỉ t́m thấy vài mô đất và tảng đá nhưng không có bia mộ ghi tên người quá văng. Dân địa phương cho biết phía sau đồi cũng c̣n dăm ngôi mộ người Việt nữa nhưng đường dốc rất khó đi... Chúng tôi tập họp lại và cùng vị Mục sư hợp tế cho những người được an táng ở đây. V́ là địa điểm tưởng niệm cuối cùng trong chặng đường hành hương, phần nhang đèn và vàng mả c̣n lại của David mang từ Hoa Kỳ được mang ra đốt hết trong buổi lễ cầu nguyện này trước khi chúng tôi quay về bến tàu.

Khi nghe tin đoàn trở lại Terempah, nhóm ngư dân VN bị bắt mà chúng tôi gặp gỡ trước đó mấy ngày trong chặng đi đă xin phép cảnh sát địa phương đến gặp để tâm t́nh đồng bào và nhắn tin về nhà. Nói là "xin phép" v́ họ đang là những người tù, bị giam lỏng trên ḥn đảo này về tội xâm nhập và khai thác hải sản bất hợp pháp trong lănh hải Nam Dương. Hàng ngày, họ vẫn được ra ngoài làm tạp dịch dưới sự giám sát của cảnh sát Nam Dương để tự nuôi thân bằng mọi việc: khuân vác bến tàu, quét dọn đường xá, phụ hồ xây dựng, khai hoang làm rẫy...

Cuộc đời tù tuy khó khăn (thường khi bị chèn ép và đôi lúc bị đánh đập) nhưng họ vẫn cảm thấy chịu đựng được v́ ít ra họ c̣n được cho phép ra khỏi hàng rào của khu tạm giam để kiếm sống, ḥa nhập vào sinh hoạt của người địa phương và hít thở không khí tự do. Điều làm họ đau đớn và tủi nhục hơn là thái độ vô cảm đến mức ghẻ lạnh của nhân viên ngoại giao của chính nước ḿnh.

Tuy đă nhiều lần cầu cứu với Đại sứ quán CHXHCN Việt Nam ở Kuala Lumpur nhưng họ chỉ chạm mặt với một bức tường im lặng khủng khiếp. Cái cơ quan có nhiệm vụ đại diện và bảo vệ cho người dân của ḿnh ở nước ngoài này không hề can thiệp, chẳng màng cử người đến thăm hỏi, thậm chí từ chối luôn cả việc chuyển thư của họ về thân nhân trong nước. V́ không có tiền, không có người bênh vực và lại bị giam giữ ở một hải đảo xa xôi, trường hợp của họ hầu như chẳng ai ở thế giới bên ngoài biết đến.

Đa số trong nhóm các ngư dân này là từ Nha Trang và Vũng Tàu. Họ chỉ là những người "đi bạn" trên các tàu đánh cá viễn duyên đó và không hề biết đă vi phạm luật hành nghề quốc tế. Có người đă ở đây gần một năm, có người mới chỉ vài tháng và tất cả đang chờ đợi ngày ra ṭa hoặc phải nộp tiền phạt mới được trả về nguyên quán. Ở Terempah hiện có khoảng 30 ngư dân Việt Nam c̣n bị giam giữ v́ không có tiền chuộc tàu hoặc chưa lănh án. Chúng tôi cũng được biết số ngư dân VN bị bắt trong vùng này lên đến hàng trăm và đa số đang bị giam giữ ở Tangjung Pinang.

Trong tâm t́nh đồng bào, nhóm ngư dân VN bị giam ở Terempah kể cho chúng tôi về hoàn cảnh khổ cực và cô đơn của họ qua làn nước mắt: "Nhiều ngày anh em tụi tôi không có việc làm, phải nhịn đói. Ai cũng mong chờ ngày về gặp lại gia đ́nh, nhưng làm sao có được hai ba trăm triệu đồng để nộp phạt? Số tiền đó bằng cả một đời làm lụng của chúng tôi chớ ít sao... Các chủ tàu th́ đă phủi tay mà 'Nhà nước ḿnh' cũng làm ngơ. Tụi tôi chỉ biết cầu Trời!"
(Nhớ lại chuyến đi thăm các trại tỵ nạn cũ ở Mă Lai hồi cuối n?m 2005, tôi cũng đă gặp một nhóm "lao động xuất khẩu" biểu t́nh ở Kuala Lumpur v́ bị chèn ép và ngược đăi nhưng chẳng hề được Đại sứ quán CHXHCN Việt Nam can thiệp hoặc giúp đỡ. Chẳng biết quư ngài nhân viên ngoại giao ở đó làm chuyện ǵ, ngoài việc ăn chận tiền c̣ từ dịch vụ buôn bán nước mắt và mồ hôi của nhân dân cùng khổ.)

Buổi gặp gỡ ngắn ngủi với nhóm ngư dân ở Terempah bị cảnh sát cắt ngang v́ "hết giờ thăm nuôi". Chúng tôi góp lại những món quà thực tế để giúp họ qua cơn ngặt nghèo và nhận chuyển những lá thư gửi về nhà với cơi ḷng nặng trĩu...

Chuyến ca-nô tốc hành đưa chúng tôi về lại Matak vào buổi trưa nắng đẹp. Cũng như lượt đi, máy bay đến Tangjung Pinang lại... trễ giờ. Ngồi chờ lây lất trong một quán ăn ven đường, anh Trưởng đoàn và Edi cứ quưnh quáng như gà mắc đẻ, v́ nếu không kịp chuyến phà chót trong ngày về Batam, chúng tôi phải nằm lại đây và ngủ... màn trời chiếu đất.

Cũng hên, khi mọi người gần như đă... đầu hàng giờ giấc của Air Riau, chúng tôi được báo tin máy bay đă đến và sẽ cất cánh trong ṿng 10 phút nữa. Thế là ba-lô lên vai và mạnh ai nấy chạy! Khi người cuối cùng bước qua khỏi cầu thang, máy bay cũng vừa lăn bánh ra phi đạo. Nhờ Edi sắp xếp sẵn, hành lư của chúng tôi gửi lại khách sạn mấy ngày trước đă được chuyển thẳng ra bến phà. Một lần nữa, chúng tôi là nhóm hành khách cuối cùng của chuyến chót trong ngày về Batam, nơi chúng tôi chỉ c̣n kịp thời gian để nhận pḥng ở khách sạn Nagoya và... lăn đùng ra ngủ!

Ngày 8 (17.04 Galang - Singapore): Ngưỡng cửa T́nh người

Buổi điểm tâm "hoành tráng" trong pḥng ăn lịch sự tại khách sạn thuộc hạng xịn này làm chúng tôi nhớ da diết món ḿ xào ớt mấy ngày qua. Lạ thật, mới hôm qua chớ đâu, mọi người vẫn c̣n ḿnh trần chân đất, ăn nói bạt mạng như chỗ không người mà bây giờ lại áo quần bảnh bao, cử chỉ lịch sự ra phết! Ai nấy cũng đều gắp nhỏ nhẹ, ăn nhỏ nhẹ, uống nhỏ nhẹ - thậm chí đến rủ nhau vào pḥng vệ sinh cũng... nhỏ nhẹ, chả bù lúc "trên trời mây trắng như bông, ở giữa cánh đồng mông trắng như mây" ́ xèo trên hoang đảo. Họ làm như một tiếng cười ré lên không đúng chỗ sẽ trở thành mục tiêu cho hàng trăm ánh mắt nhíu lại khó chịu. Té ra, cái đời sống "văn minh đô thị" đă... điều kiện hóa người ta như vậy. Nhưng dường như chẳng có ai lẩm cẩm triết lư về những chuyện ruồi bu đó. Mọi người c̣n mải mê "gỡ" những tấm h́nh cuối cùng trước khi chia tay với nhóm từ Pháp (anh chị niên trưởng Tôn Thất Vinh - Vân Hải và cặp sam biển dính nhau khít rịt Chung - Thúy) v́ nhóm này sẽ phải bay lên thủ đô Jakarta trong ngày để về lại Paris.
Màn "Lên xe tiễn nhau đi, chưa bao giờ... mừng thế" diễn ra khá... rươm rướm (gớm, chẳng biết mấy bà mấy cô lấy đâu ra thứ chất lỏng quư hiếm này dễ dàng thế!) nhưng cũng gọn nhẹ v́ chúng tôi c̣n phải tranh thủ ngày cuối cùng của chuyến đi để thăm trại tỵ nạn Galang, nơi từng là trạm dừng chân của nhiều cựu Kuku trước khi lên đường định cư.

Thật ra, chặng Galang không nằm trong chương tŕnh ban đầu nhưng theo yêu cầu của nhiều người trong đoàn, Trần Lăo Gia đă thu xếp với công ty du lịch để chúng tôi trở lại nơi từng được đặt tên là "Ngưỡng cửa của Tự do và T́nh người" chỉ cách Batam hơn một tiếng lái xe.

Dù chỉ trong vài giờ ngắn ngủi, chúng tôi đă đến được các địa điểm ghi dấu nhiều kỷ niệm trong đời tỵ nạn như Cầu tàu và Chùa Quan Âm ở Galang I, Nghĩa trang Galang III, Miếu Ba Cô và Nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm ở Galang II... Tại những nơi này, chúng tôi cũng đă thực hiện những buổi lễ cầu siêu cho hương linh đồng bào nằm lại trước khi trở lại bến phà Batam về Singapore vào buổi chiều.

Buổi ăn tối chia tay trên cầu tàu Boat Quay ở Singapore tuy dập d́u tài tử giai nhân, đèn màu rực rỡ cả một khúc sông và nhiều món ăn hấp dẫn nhưng không khí trong nhóm dường như trầm hẳn xuống. Mấy tay "quậy" cũng nín khe không moi ra được một câu bông đùa thường ngày khi chúng tôi uống cạn hớp bia cuối cùng và đứng dậy ôm nhau hát khẽ bài tạm biệt "Gặp nhau đây, rồi chia tay..." lúc đồng hồ chỉ quá nửa đêm.

Vài giờ nữa, nhóm Mỹ (Mimi, Anh Huy, David và bác Hồ... tặc) sẽ lim dim trên đoạn đường bay mười mấy giờ về nhà. Nhóm Đức (anh chị Văn Nam - Xuân Hương) c̣n tiếp tục giang hồ thêm vài ngày cho bơ công. Những người c̣n lại trở về khách sạn... chờ sáng.

Ngày 9 (18.04 Singapore - Home): Gặp nhau đây, rồi chia tay...

Buổi sáng, băng 3T Triệu - Tài - Tước và anh em Nhà họ Huỳnh đă ra ngồi lại quán cà-phê lề đường ở vùng Geylang từ sớm. Trần Lăo Gia, út Tuấn Hùng và tôi cũng lục tục tấp vào. Ly cà-phê sữa tổ chảng (chỉ 80 xu Sing) đă giúp chống lên đôi mí mắt lúc nào cũng chực sụp xuống v́ thiếu ngủ. Lác đác những cô gái ăn sương thức sớm ghé lại ăn sáng, gương mặt không son phấn trông phờ phạc, mệt mỏi...

Thấm thoát mà đă 10 ngày. Mười ngày trước, chúng tôi cũng đă ngồi ở đây, chưa biết đoạn đường sắp tới sẽ ra sao nhưng mọi người đều háo hức, nôn nả. Bây giờ, gia tài tinh thần của từng người phong phú hơn, t́nh cảm với nhau mặn mà hơn nhưng không tránh khỏi tâm trạng bồi hồi, quyến luyến trước giờ giă từ.

Ngoài những người sắp cất cánh về nhà, Út Tuấn Hùng (từ Thụy Điển) sẽ trở lại Galang trong ngày để trùng tu lại Miếu Ba Cô như lời khấn nguyện. Anh Trưởng đoàn ngày mai sẽ tiếp tục lên đường đi Mă Lai đến Hội Hồng Nguyệt ở thủ đô Kuala Lumpur để thu xếp việc scan lại hàng trăm ngàn thẻ thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam từng ghé lại đất nước này. Riêng tôi lại ḷng ṿng ṃ đến trại tỵ nạn xưa và t́m thăm những bạn cũ ở Singapore.

Mọi người xốc ba-lô lên vai, xiết tay nhau cú chót và chúc nhau "bảo trọng".

Lời kết:

Thế đấy, chúng tôi 22 người từ 6 quốc gia, hầu hết chưa quen biết nhau trước, đă sống với nhau trọn vẹn trong gần 10 ngày của chuyến đi để đời này. Chúng tôi đă chia sẻ với nhau những món hải sản tươi rói mới vớt lên từ ḷng biển trong veo hoặc những tô ḿ gói nguội ngắt giữa đêm khuya, trong những khách sạn đầy đủ tiện nghi ở thành phố hoặc những pḥng trọ qua đêm ở vùng quê được ngăn bởi tấm vách không đủ độ dày để đẩy lùi tiếng ngáy của... mấy ông thợ kéo gỗ, với những quyến luyến không rời giữa những người bạn mới quen mà đă trở thành tri kỷ, với những nén nhang thành tâm lung linh trước các mộ phần vô danh của thuyền nhân Việt Nam ở nơi cùng trời cuối đất này.

Trong chuyến đi, không ai trong đoàn tiên đoán được hết những bất ngờ dọc đường. Chương tŕnh được linh động điều chỉnh liên tục v́ sự thay đổi ngoài dự tính. Chúng tôi đă di chuyển bằng mọi phương tiện có thể thu xếp được tại chỗ; từ những phi cơ hiện đại của các hăng hàng không quốc tế đến các chuyến bay nội địa bằng phi cơ cánh quạt thời... Đệ nhị Thế chiến, từ những chiếc ca-nô cao tốc đến các chiếc tàu khách chậm ŕ, từ những xe du lịch ŕ rào máy lạnh êm như ru đến các chiếc xe đ̣ cởi hết cả áo vẫn c̣n chảy mồ hôi (thật là... tội nghiệp cho các bà các cô!), từ các đoạn "xe ôm" từng cặp bất đắc dĩ đến những cuốc... xe dép mỏi nhừ đôi chân. Vậy mà chẳng ai thốt ra một lời than. Vậy mà chỉ nghe tiếng cười, câu hát, chuyện vui rộn ràng trên những đoạn đường t́m về kỷ niệm...

Chúng tôi đă hưởng thụ - theo nghĩa đúng nhất - những phong cảnh kỳ vĩ của thiên nhiên và thổ sản địa phương độc đáo mà những du khách dư dă tiền bạc chưa chắc đă mua được. Làm sao bạn có thể ngắm được ánh nắng chiều ráng đỏ trên đường chân trời giữa chập chùng hải đảo? Làm sao bạn có thể ngâm ḿnh dưới làn nước trong veo như thủy tinh trên băi cát trắng mịn ở băi biển mà người địa phương đặt tên là "Nước của Trời", uống ngụm nước dừa mới hái và ăn ngay tại băi những con tôm hùm c̣n quẫy đuôi tanh tách do các ngư dân mang đến trên những chiếc ghe độc mộc chèo tay? Và làm sao có được những đêm văn nghệ ngẫu hứng vui nhộn bằng các ngôn ngữ Anh, Pháp, Đức, Việt và Nam Dương được tŕnh diễn bởi "những giọng hát quốc tế chưa hề cầm micro chuyên nghiệp" nhưng hay chẳng kém bất cứ siêu sao ca nhạc nào?

Chúng tôi cũng đă sẻ chia với nhau những ḍng nước mắt rưng rưng hạnh phúc khi cùng các bạn đồng hành t́m thấy mộ phần quạnh hiu nhang khói từ hàng chục năm qua của người thân nằm lại trên đảo, nhặt từng chiếc dép, sợi neo, mảnh chén... c̣n vương mùi dâu bể của cuộc hành tŕnh gian truân và bi thảm nhất trong lịch sử dân tộc.

Nhưng thú vị và cảm động nhất vẫn là những ân t́nh đậm đà với những người mà chúng tôi một thời đă chịu ơn, hoặc với những người đương thời mà chúng tôi đang mắc nợ.

Trước hết phải kể đến người dân địa phương hiền ḥa và chất phác ở Matak, Terempah, Letung, Air Raya, Keramut... Nhớ lại trước đây, họ đă đón tiếp các đợt thuyền nhân Việt Nam trôi dạt đến vùng quần đảo Anambas này bằng những bàn tay nâng đỡ, những nồi cháo hồi sinh, những tấm áo lành lặn tạm che tấm thân tơi tả v́ sóng gió hoặc hải tặc. Bây giờ, cũng chính họ phá rừng mở lối, hướng dẫn t́m mộ, cùng san sớt niềm vui nỗi buồn trong câu chuyện xưa với những người họ từng một thời cưu mang. Dưới lưng áo bạc trắng muối biển và làn da đen sạm nắng gió nhiệt đới, trái tim của họ vẫn đỏ tươi một t́nh người thủy chung, bất biến. Họ tiếp đón chúng tôi bằng bàn tay nắm chặt và nụ cười hồn nhiên như những bác Ba, chú Tư, cô Năm, d́ Sáu... ở miền Trung, miền Tây của quê hương Việt Nam trong ḷng những kẻ xa quê lâu lắm mới có dịp trở về - không phân biệt đoàn "du khách quốc tế" này ngày xưa là chén sành bây giờ là chén kiểu.

Chúng tôi cũng đă có cơ duyên hạnh ngộ với những ân nhân thầm lặng của thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam như Adnan Nala, người đă dành trọn tuổi thanh xuân cho lư tưởng nhân đạo cao thượng mà hy sinh cả tương lai sự nghiệp của ḿnh.

Và chúng tôi cũng đă gặp gỡ các ngư dân Việt Nam bị tù giam ở Terempah trong một hoàn cảnh bẽ bàng, buồn tủi v́ bị bỏ rơi bởi chính những kẻ vẫn luôn miệng rêu rao là "chính quyền nhân dân". Có sống những giây phút tận cùng mâu thuẫn và nghịch lư ấy mới thấy thấm thía ư nghĩa của những chữ đồng bào và đồng hương.

Sau cùng là anh chàng hướng dẫn viên xuề x̣a dễ mến Edi Surbakti, xếp của một công ty du lịch ở Thành phố Batam. Suốt chuyến đi, hầu như anh chỉ ngủ mỗi đêm vài giờ nhưng phải thường trực đối phó với "những việc không tên" nặng như búa tạ mà có lẽ rất ít người trong đoàn biết được. Ngày từ giă chúng tôi, Edi đă không cầm được nước mắt. Anh đă nhiều lần đích thân phụ trách hướng dẫn các đoàn của VKTNVN về thăm các trại tỵ nạn ở Nam Dương từ năm 2005, mỗi lần đối với anh là một kỷ niệm khó quên, nhưng dường như anh chưa hề bộc lộ sự xúc động cao độ như lần này.

Là một người hoạt bát và thích bông đùa, Edi lại trở nên lúng túng nghẹn ngào khi nói lời chia tay với một giọng sũng nước. Nhân danh một công dân Nam Dương b́nh thường và biết xấu hổ, anh đă xin lỗi mọi người về hành vi quấy nhiễu và hối lộ của "những thằng chó chết" (các quan chức tham ô ở địa phương) trong một số chặng đường chúng tôi đă qua. Thật ra, nhiều người trong đoàn hoàn toàn không biết ǵ về những chuyện ấy cho đến ngày cuối cùng v́ anh đă chịu đựng nín nhịn để ǵn giữ không khí thoải mái của chuyến đi. Nghe được chuyện, tôi chỉ ao ước phải chi những kẻ đang cầm quyền cai trị đất nước Việt Nam cũng biết xấu hổ như một công dân b́nh thường Edi ở Nam Dương...

Có vài độc giả khi đọc bài phóng sự lê thê này đă hỏi tôi một câu rất thực tế: "Đi như vậy tốn bao nhiêu tiền?"

Tôi hiểu câu hỏi này xuất phát từ sự quan tâm chính đáng v́, ngoài nhu cầu tâm linh và mục đích rơ ràng như vậy, họ cũng phải chuẩn bị về khả năng tài chánh để tham dự chuyến đi. Những người tham dự chuyến đi vừa qua cũng đă từng đặt câu hỏi như thế. Và, như vài đoạn viết vui về "anh chàng trùm ṣ" trong bài, mọi người đều nhẩm tính rằng họ đă "lời to" sau chuyến đi, không những trong ư nghĩa vật chất mà c̣n cả về phương diện tinh thần.

Nhân đây, xin được kể một câu chuyện ngoài lề để kết thúc bài phóng sự này: Sau hàng chục năm "cày sâu cuốc bẩm", anh Triệu (từ Melbourne - Úc) dành dụm được ít tiền dằn túi để cố gắng thực hiện lời hứa đưa di hài của vợ từ Kuku về gia đ́nh. Anh từng dự tính thực hiện một chuyến đi riêng (trước khi biết đến Văn khố Thuyền nhân VN) với chi phí ước chừng... vài chục ngàn đô-la (xin lỗi anh Triệu, tôi phải nói ít đi một chút cho độc giả tin, chứ nói cả trăm ngàn th́ sợ... trộm viếng nhà anh!) v́ nó bao gồm các phương tiện di chuyển và giấy tờ rất nhiêu khê, tốn kém; như thuê tàu bè, trực thăng chuyên dụng, nhân công địa phương, thủ tục bốc mộ và mang tro cốt về nước v.v... Nhưng khi được bạn bè và gia đ́nh hỏi về chi phí cho chuyến đi vừa qua với kết quả tốt đẹp ngoài sự mong đợi, anh cho biết toàn bộ chỉ tốn khoảng 6000AUD cho cả ba anh em 3T, kể cả những chi phí riêng. Ai cũng cho là... "quá bèo", dù so với giá cả và mức sống ở Việt Nam!

Các bạn có thể xem thêm tin tức và h́nh ảnh của chuyến đi tại Kuku trip
http://www.vnbp.org/vbtd/vbtd06/index.htm
__________________

A straightforward solution gives extreme effectiveness.
Reply With Quote
Reply

Thread Tools

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off

Forum Jump


All times are GMT -7. The time now is 02:14 AM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.7
Copyright ©2000 - 2018, vBulletin Solutions, Inc.
Người Việt Năm Châu