Welcome to Người Việt Năm Châu. Chúc tất cả Anh Chị Em một ngày b́nh yên, may mắn và hạnh phúc... XIN ĐỪNG QUÊN: Hơn 80 triệu đồng bào VN đang bị nhốt trong cái nhà tù lớn mệnh danh XHCNVN của lũ quốc tặc Việt cộng ...

Trang Chính Diễn Đàn About NVNC Một Góc Phố Một Góc Phố US MGP phpBB Lư Lạc Long
Pḥng Phát Thanh VietKey Online NVNC Làm Quen Cyber Cafe Văn Học Nghệ Thuật Xă Hội Tin Tức Thời Sự
Go Back   NGƯỜI VIỆT NĂM CHÂU > 4. XĂ HỘI - ĐỜI SỐNG - KHOA HỌC KỸ THUẬT > Các bài viết về Triết Việt
FAQ Members List Calendar Mark Forums Read

Các bài viết về Triết Việt Dành riêng cho những bài viết về Triết Việt .

Reply
 
Thread Tools
  #1  
Old 12-01-2012, 11:33 AM
TTL's Avatar
TTL TTL is offline
Tiếng Tơ Ḷng - #5 (top 30 posters)
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 5,216
Thanks: 17
Thanked 58 Times in 48 Posts
Default Vài ẩn dụ phi thường trong Tây Du Kư.

Vài ẩn dụ phi thường trong Tây Du Kư.
Lê Hùng , Bruxelles


Ẩn dụ là ư thức của nhà văn phơi ra bên ngoài trong một tác phẩm mà nguời đọc rất dễ nhận ra. Có thể nói, ẩn dụ chỉ là cái vỏ của ư thức. Chẳng hạn, người Việt ḿnh th́ hầu như ai cũng nghe truyện Tề Thiên trong Tây Du Kư. Đây là mẫu truyện thần thoại của một con khỉ phi thường, họ Tôn tên Ngộ Không, đă giúp ngài Tam Tạng trong cuộc hành hương sang Thiên Trúc thỉnh kinh Phật. Trên đường đi gặp biết bao nhiêu tai nạn do yêu ma bày ra để hăm hại thầy tṛ, nhưng nhờ tài phép của Ngô Không nên mọi trở ngại đều được vượt khỏi và đă đến nơi thỉnh kinh như ư nguyện. Tác giả Ngô Thừa Ân đă làm cho người đọc thích thú, với cái lối văn trào phúng và cách dàn dựng mẩu truyện xem ra cũng có duyên, lôi kéo tánh ṭ ṃ con người. Ngoài cái "đọc mà chơi" ra, chúng ta thử t́m xem những ẫn dụ nào mà tác giả muốn lồng vào trong quyển truyện. . Đó là phần chính mà chúng tôi muốn nói trong bài này.

Chế diểu xă hội.

Xă hội thời đại Ngô Thừa Ân cũng là xă hội muôn đời của loài người. Tác giả đă dùng lời văn hài hước dụng ư châm biếm, c̣n gọi là trào phúng. Tác giả nhắm vào triều đ́nh quan lại, mà ông vua biểu thị nơi thượng giới là Ngọc Hoàng và quan lại là yêu ma qủy quái. Ngọc Hoàng cũng như vua là kẻ thế thiên hành đạo, nhưng công việc trị dân th́ rất mù mờ, đến nổi không biết Ngộ Không sinh ra bằng cách nào, con cái nhà ai. Đến lúc gặp Ngộ Không mới nhận ra đây là con người dị tướng, có mưu lược lấp bể vá trời. Và để tránh hậu hoạ Ngọc Hoàng Thượng Đế liền cho quân lính nhà Trời đi đánh dẹp.

Khi quân nhà Trời dẹp không nổi, th́ Ngọc Hoàng bèn thay đổi chiến lược bằng cách chiêu hồi "dụ khỉ" Ngộ Không và mời Ngô Không về Trời cho lănh chức tước quán lĩnh việc giữ ngựa. Quả thật Thượng đế khinh người như vậy là cùng ! Nhưng việc này tỏ ra Ngọc Hoàng chẳng biết của biết người, nên Ngộ Không đem ḷng tức giận, từ khước và quyết đưa quân đi đánh nhà Trời. Đến lúc quân nhà Trời bó tay, Ngọc Hoàng lo xanh mặt nên phải chạy đến nhờ Phật tổ mới trị được Ngộ Không. Th́ ra Ngọc Hoàng cũng là người ở chốn trần gian, đă lợi dụng că quyền đạo lẫn quyền đời.

Chưa hết, Ngọc Hoàng c̣n bất nhân như vụ làm chết nhiều người ở quán Phụng Thiên chỉ v́ họ dám đem đồ đă cúng nhà Trời vất cho loài muông thú ăn (hồi 87). Triều đ́nh của Thượng Đế lại c̣n thối nát cho tay chân như Thái Bạch Kim Cương đi làm bậy, nên đă bị Ngộ Không mắng chưởi: "Ta xem ngươi đă già sao mà nói láo quá vậy?". Chỉ cần 2 ẩn dụ này cũng đủ nói lên chế độ độc ác và chuyên chế của vua quan trong xă hội đương thời.

Chế diểu tôn giáo.

Người đọc Tây Du Kư thường cho rằng đây là lịch sử đi t́m đạo Phật. Nhưng thật ra, đối với giáo lư từ bi của nhà Phật th́ câu chuyện Tây Du Kư lại càng chua cay. Chẳng hạn việc tác giả nêu chuyện Phật Bồ Tát đă sai con yêu Toàn Trân giết chết Ô Kê và đoạt ngôi báu luôn cả vợ con, khiến Ngộ Không bắt Toàn Trân hiện nguyên h́nh con sư tử lông xanh, rồi hạch xách Phật Bồ Tát: "Nơi phàm tục có câu quân tử năng dung sao Phật Tổ lại trả thù tư như vậy, khiến sư tử lông xanh phạm đến Hoàng Hậu có phải là mất phép lịch sự không?" Vân Thù Bồ Tát trả lời: "Ngươi nói cũng phải nhưng Thanh Sư không động đến cung nga có đâu xâm phạm đến Hoàng hậu, vả lại nó là Sư tử đă thiến lâu rồi mà". Bát giới không tin đến sờ bụng Thanh Sư rồi cười nói: "Thiến thật: chú mầy có tiếng mà không có miếng, không uống nước cũng chịu tiếng mang bầu" (hồi 39).

Có người lại nói Tây Du Kư có dụng ư nhằm vào sự truyền bá đạo Phật, nhưng tựu trung lại sửa lưng Phật giáo rất nhiều, dù cho tác giả cố ư phân biệt Tăng với Phật. Nếu đạo Phật được xét như đạo lư vô vi th́ cũng đáng được hoan nghênh, đàng này giáo hội Tăng là hữu vi làm nhiều chuyện tồi tệ nên cần phải đả kích qua lối phá phách chế diễu kỳ tài của Ngộ Không. Đến lúc chịu hết nổi, Ngọc Hoàng phải cầu cứu Phật Tổ bắt Ngộ Không nhốt dưới hang động núi Ngũ Hành những 500 năm. Sự nhờ cậy trong hành động này chứng tỏ quyền năng Phật Tổ lớn hơn Ngọc Hoàng. Đây cũng là quan niệm Phật cao hơn Trời, một quan niệm rất sai lầm trong tôn giáo nói chung và Phật Giáo nói riêng.

Khi nh́n về từ bi trong giáo lư th́ đức Phật cũng mắc đầy tệ đoan xằng bậy v́ ngài đă để cho tay chân bộ hạ làm chuyện bê bối c̣n hơn cả Ngọc Hoàng. Số yêu ma của Phật tính ra c̣n ác ôn vượt xa các yêu ma của Thượng Đế. Chẳng hạn, con yêu Huỳnh Bào làm hại biết bao người, đến lúc truy nguyên ra mới hay là Đồng Tổ giổ khánh tại đức Di Lạc. Lấy cớ đó, Tôn Hành Giả trợn mắt nói với Phật: "Thật là báo hại tôi! Thà thay v́ giả ra làm yêu quái, lại giả Phật giả Chùa. Tội thất thoát ấy Phật Tổ tránh đâu cho thoát".Khi Như Lai thú nhận rằng: "Ba con yêu đó ta biết rồi, 2 con có chủ, một con thân thích với ta", th́ bị Tôn Hành Giả ngững mặt lên thở kh́ và nói: "Ôi chao! Té ra Phật Tổ đi làm bà con thân thích hoá thân làm yêu quái hại chúng sinh ư?" (hồi 77).

Đến vụ phát kinh Phật cũng thấy ê chề !. Trưóc hết là 2 đệ tử cao cấp nhất của Phật, Ác Năng và Ca Nhiếp đ̣i lễ vật: "Hay quá ! đi thỉnh kinh mà tay không th́ về truyền lại sao cho siêu nổi !". Dụng ư thật quá sâu xa. Té ra kinh Phật không linh bằng tiền bạc và đồ vật đi kèm, nên khiến mấy thấy tṛ ngạc nhiên vô kể. Đến khi Bát Giới và Sa Tăng nài nỉ măi, hai ông Ác Năng và Ca nhiếp mới chịu phát kinh, mà lại phát toàn lọai kinh vô tự. Tất cằ đều là giấy trắng không có dấu viết lại "nửa chữ ". Thấy vậy, Ngộ Không bất b́nh quyết kêu lên Phật Tổ để phạt kẻ tham tiền: "Thầy tṛ tôi trăm cây ngàn đắng, nhiều tháng lâu năm, mới đến được nơi đây, nhờ Như Lai phát kinh mà Ananda và Kasyapa đ̣i hỏi măi lộ, chúng tôi không có th́ 2 người phát kinh giấy trắng". Ai ngờ chính Phật Tổ cũng không ǵ hơn. Ngài bèn cười và nói: "Chuyện đó ta đă hay rồi, 2 người phát kinh không hề có lổi, băn kinh ấy quư lẽ nào thỉnh không mà đặng phúc. Trước đây các sải nơi này có đem kinh xuống nước Xá Vệ để tụng cầu siêu cho Triệu trương gia. Gia đ́nh nhà Triệu hoàn công chỉ có 3 đấu gạo với vàng bạc chút ít, việc này ta đă nói Triệu Trương gia bũn xĩn, sau con cháu không được giàu sang. Nay thầy tṛ người đến tay không mà thỉnh được bấy nhiêu kinh mà than thở ǵ nữa ". Nghe vậy, Tam Tạng liền dâng Phật Tổ chiếc b́nh bát để được lỉnh kinh hữu tự (kinh viết bằng chữ).

Nói đến đạo giới c̣n bị tác giả đả kích tồi tệ hơn nữa. Như vụ con nai bạch Nam Cực của tiên ông hoá yêu, giả làm quốc trưởng nước Tỳ Khưu, bắt hơn ngàn trẻ mổ lấy tim làm thuốc trường sinh cho vua (hồi 79). Tại miếu Tam Thanh khi các đạo sỉ đang làm chay tế Thái Thượng Lăo Quân, trên bàn thờ đầy hoa trái, th́ Ngộ Không làm gió ấm ầm thổi tắt hết đèn, đổ hết cả trượng, nên mọi người sợ hăi bỏ chạy ra về. Khi đó, Ngộ Không bắt Bát Giới và Sa Tăng vào ăn hết rồi đái đầy vào các lu ṿ đựng nước kim cang. Đến khi các đạo sỉ trở lại lấy uống làm lạ, bèn hỏi nhau rằng nước kim cang là thuốc tiên uống ngon lắm, cớ sao lại thấy mùi khai thế này (hồi 45). Vụ con trâu của Lăo Quân biến thành yêu độc giác đầy quyền phép th́ Tôn Hành Giả không thắng nổi bền đi cầu cứu Như Lai,nhưng Như Lai không dám nói rơ ra. Đến lúc Tôn Hành Giả t́m ra được manh mối liền trách Lăo Quân: "Như vậy là Tôn Ông đă thả trâu ra phá đời, hại người cướp của, th́ không thể tránh tội được".

Lược sơ qua các mẫu chuyện như vậy đủ thấy rằng mục đích Tây Du Kư không phải hoàn toàn truyền bá đạo Phật, nhưng là để đả phá những cái suy vi trái khuấy trong cả quyền đạo lẫn quyền đời của xă hội. Tây Du Kư cũng không phải là loại sách tâm lư, nơi mà Tam Tạng đại biểu cho lư trí, c̣n Ngộ Không đại diện cho sức mạnh. Có người c̣n gọi đó là triết lư về con người, lấy đường đi Tây Phương đầy gian nguy làm h́nh ảnh cho cuộc đời gian nan tại thế. Nhưng tất cả chỉ là cái nh́n ở tầm mức lư trí chưa đạt được nhận thức thâm sâu tiềm ẫn trong toàn đại truyện. Vậy những ẩn ư nào trong các ẩn dụ cần xét thêm nữa?

Ẫn ư triết lư hay Kinh vô tự trong Tây du kư

Muốn biết đó là nền triết lư nào th́ câu hỏi đầu tiên là nhân vật nào trong Tây du kư đă làm vai chủ động? Tam Tạng hay Ngộ Không ? Hiểu cách mặc nhiên th́ xưa nay người đọc truyện bảo chính là ngài Tam Tạng, đến nổi nhiều nhà b́nh luận trách tác giả Ngô Thừa Ân đă để Ngộ Không trấn át làm lu mờ Tam Tạng, người đại diện cho thầy Huyền Trang, một nhân vật có thực trong lịch sữ Phật giáo. Đó là chưa ư thức được triết lư cuả tác giả. Thực ra trong Tây du kư cuả Ngô thừa Ân, ngài Tam Tạng chỉ là một vai tuồng cuả tiểu thuyết, chứ không phải là thầy Huyền Trang. Ngài Tam tạng chỉ là một nhân vật tưởng tượng như ba vai Ngộ Không, Bát Giới và Sa Tăng, do Ngô thừa Ân dựng nên ứng hợp cho mục tiêu nhân sinh quan cuả ḿnh. Nhưng dần dà tác giă vô t́nh hay cố ư dă để lan sâu vào cỏi tiềm thức cộng thông cuả đại gia đ́nh Văn hoá Việt tộc. Nói khác, Tam tạng không phải là nhà sư Huyền Trang, và phật Như Lai trong truyện không phải là đức Thích ca. Ngay cả việc thĩnh kinh cũng chỉ là « cái đinh » để tác giả treo « cái áo » cuả ḿnh, tức là những điều trong tiềm thức mà ông muốn bày tỏ gián tiếp qua câu truyện. Lư do ?

Trước hết ta thấy sách dành bảy (7) chương để giới thiệu con khỉ Tôn Ngộ Không làm rung động cả Trời Đất, trong khi đó chỉ dành cho Tam tạng có một (1) chương. Xem thế đủ biết đâu là vai chính và chỉ có nguời vai chánh mới diễn đạt đúng chiều sâu cuả tác phẩm. Khi diển tả hai nhân vật nầy , từ Chí qua Trí đến Nhân và Dũng, chúng ta thấy những trái nghịch lạ thường. Về Chí th́ Tam Tạng có một vài giá trị giă tạo, như chức tước cuả nhà Phật ban cho người đời. Cũng như những tăng ni khác, Tam Tạng biết giử giới với những điều răn tiêu cực như tránh đàn bà, kiêng ăn mặn, ngoài ra Tam Tạng chẳng có ǵ lạ lùng cả. Tam Tạng sùng đạo thật, có tŕ chí đi thĩng kinh thật, nhưng Chí cuả ngài chẳng chút bền bỉ nào cả. Chẳng hạn trước cảnh đường sá nguy hiểm xa xôi, ngài đă lắm lúc than thở nhớ cữa nhớ nhà, ngài than thân cơ cực v́ phải giải gió dầm sương mà chẳng biết ngày nào đến đưôc Tây phương thế giới. Đi tu Phật mà cứ nghỉ đến chuyện khỗ ăi th́ cũng là lạ ! Trong khi đó, th́ Tôn hành giả phải ngày đêm bên cạnh an ủi can ngăn, xin ngài đừng nên hoài tưởng đến cố hương, v́ làm như vậy th́ cả đoàn sẻ không vui và thối chí. C̣n xét về Trí, hể lần nào gặp phải rừng sâu núi hiểm, th́ Tam Tạng cũng chẳng bao giờ có sáng kiến mà chỉ biết nhắc đi nhắc lại một câu : « Nếu núi nầy cao chắc có yêu ma, các tṛ phải ư tứ ». Đây là lối nói cuả người hèn nhát khù khờ thật sự, hoàn toàn tiêu cực, v́ « không vào hang hùm th́ sao bắt được cọp » ? Và giả sử có yêu ma th́ cái Trí người đại diện nhà Phật để vào đâu ?. Nhiều lần Tam Tạng đă chối từ lời can ngăn cuả Ngộ Không nên Ngài đă bị hăm hại vào ṿng yêu quái. Chẳng hạn khi yêu Hồng Hài Nhi giả làm đứa trẻ tám tuổi bị treo trên cây th́ Tam Tạng không biết đó là yêu qủy và đ̣i Ngộ Không cứu cho bằng được. Đến lúc Ngộ Không can gián, th́ ngài chửi bới um sùm, rồi vào huà với Bát Giới giải thoát cho yêu để rồi bị nó bắt giam (hồi 40). Cho nên chúng ta thấy nhièu lần Ngộ Không đă than văn : « Thầy ơi, sao Thầy không biết thiệt giả làm trể việc đi đường » (hồi 95). C̣n xét đến đức Dũng th́ Tam Tạng lại c̣n thiếu hơn nữa. Ngài là người không những nhát cáy, mà hể động đến một tí là khóc, mất mát chút ǵ là than văn, chỉ mất cái áo mà cả đêm Ngài ngủ không được !. Khi vừa thấy Ngộ Không đập chết con hỗ yêu ma th́ ngài kinh hăi ngả lăn khỏi lưng ngựa. Nếu nghỉ về đức Nhân th́ Tam Tạng c̣n tỏ ra hẹp ḥi, khó tính. Khi vừa được bà Quan Âm cho ngài cái ṿng Kim Cô, th́ ngài t́m cách tṛng vào đấu Ngộ Không và niệm chú cho Ngộ Không đau điếng, vật ḿnh vật mẫy, để sai khiến cho bằng được. Khi mất ngựa ở suối Đông Hầu, th́ ngài thở vắn than dài rằng làm sao mà đi đến Thiên Trúc bây giờ ?. Thấy vậy, Ngộ Không bèn thưa : « Xin Thầy yên tâm ngồi chờ đây để tôi đi t́m ». Thế mà ngài vẫn không yên tâm lại c̣n mắng mơ Ngộ Không chẳng tiếc lời : « Để ta một ḿnh , yêu đến bắt ta ăn thịt th́ sao ? ». Tôn hành Giả bèn nỗi xùng : « Rất khổ tâm với Thầy, ngựa th́ muốn cưởi mà người chẳng cho đi, ha lẻ hai thầy tṛ ngồi đây mà chịu chết sao ? (hồi 15).

Ngài Tam Tạng trong truyện Ngô thừa Ân chỉ có đức từ bi ủy mị ở tŕnh độ xúc cảm, nghỉa là không đạt được tŕnh độ trí tuệ hướng dẫn và dũng căm đi kèm. Đó là thứ từ bi bám sát vào hiện tượng, nên hể động vào đâu là gây tai hại đến đó. Hảy xem Ngộ Không nói : « Xin Thầy thâu thứ từ bi đó lại đi » (hồi 27). Trong đoàn chỉ có Ngộ Tĩnh là khá nhất v́ ông đại diện cho các mẫu Thầy Chùa chân chính tu hành : « Thầy nghe lời xua nịnh cuà Bát Giới, được chim bĩ ná, được cá quên nơm, sai khiến người như sai khiến súc vật, th́ sao gọi được là kẻ tu hành minh chính » (hồi 27), nên được Tam Tạng đặt tên là Sa Tăng, một đại biểu cho hàng tông đồ cấp nhỏ, không bị quyền bính trần tục làm hư hỏng, nên giử được khá nhiều lương tri, có được đời sống b́nh hành. C̣n Tam Tạng th́ biểu hiệu cho Hữu Vi, kềnh côi rắc rối, thai phàm xác thịt, chỉ bám nhờ vào giáo hội, nhờ tiếng tu lâu được chức cao rồi lên mặt với Ngộ Không.

Thực ra toàn truyện, Ngộ Không đă đóng vai chủ động, một vai quân tử cốt cách nho phong. Chẳng hạn khi gần đến sông Thông thiên th́ Tam Tạng buột miệng hỏi : « Ta sẻ đi đâu mà ngủ đêm ? » th́ Ngộ Không đă tra lời : « Thưa Thầy đó là câu hỏi dành cho người tầm thường, chứ những người hành hương như ta không nên nhắc đến ». Tam Tạng hỏi lại : « Khác nhau chỗ nào ? » Ngộ Không liền trả lời : « Người thường vào giờ nầy th́ hú hí với vợ con trong giường êm nệm ấm, nằm ngồi thoải mái, muốn sao được vậy. Người hành hương đâu có quyền đ̣i hỏi như vậy, gặp được trăng sao th́ phải đi, phải biết dầm sương giải nắng suốt dọc đường trường ». Đến lúc thấy núi Linh Sơn chính cống mà Tam Tạng cũng chẳng biết, phải chờ đến Ngộ Không nhắc nhủ mới biết mà lạy : « Thầy th́ cứ đâu lạy đó, nay đă đến núi chính thánh thiệt lại ngồi ́ trên ngựa là sao ? »

Sở dỉ con người xưa rày không nhận ra được Ngộ Không là vai chính, làm thiên thần hộ mạng cho Tam Tạng, là v́ tâm thức con người bị vướng mắc trong Hữu Vi sắc tướng, coi trọng Tăng ni mà khinh thường xác thân khỉ đột. Con người không để ư đến linh hồn Ngộ Không, không để ư đến tên Ngộ Không, không bao giờ nghỉ đến « cái đinh » cuả bộ truyện là thĩnh được « bộ kinh vô tự ». Tất cả giá trị nằm trong chữ Không (vô) đó.

Tam Tạng biểu thị cuả đám thượng tầng cấu trúc xă hội đă bám vào h́nh danh sắc tướng biểu thị bằng tụng « kinh hữu tự» (có chữ viết), th́ dù có tụng nát cả ngàn quyễn, gơ bễ cả trăm mơ chiêng cũng không thể nào siêu thoát được.

Dụng thể triết lư trong danh xưng .

Khi nhận ra được vai chủ động rồi và muốn t́m đến khuông mặt triết lư th́ chỉ cần xem đến danh hiệu xưng hô cuả Ngộ Không là đủ. Bởi lẻ, người xưa Danh là Tánh, cứ phân tích danh hiệu một người là biết ngay băn tánh cuả người đó. Nói khác, tức là biết nền triết lư đó. V́ vậy chúng ta hảy thử đi vào trong ba cấp danh xưng: TềThiên, Đại Thánh và Ngộ Không có ẫn ư triết lư ǵ ?.

A.Dụng thể danh xưng Tề Thiên.

Tề (bằng nhau) Thiên (trời) có nghỉa là ngang hàng với Trời. Điều nầy được biểu lộ ngay ở sự xuất hiện độc lập cuả Tôn hành Giả. Chính Ngọc hoàng cuả Trời cũng không hay biết ai sinh ra con khỉ đột Ngộ Không nầy. Tác giả chỉ giới thiệu đây là sức nóng lạnh cuả nhật nguyệt lần lần tụ tinh thành một trứng đá, trong lâu năm trứng đá đó đă tượng h́nh, rồi gặp một trận gió lớn nỡ ra một con khỉ đá giống hệt con người, chỉ đặc biệt có cặp mắt « sáng rực như hai ngôi sao Bắc đẫu ».

Đang lúc ngự tại Linh tiêu, Ngọc Hoàng thấy hào quang từ địa giới chiếu lên, bèn đ̣i các thiên thần đến chất vấn : « Lúc nầy nơi trần gian có xẩy ra chuyện chi ? Cớ sao lại có hào quang chiếu sáng chói ? » Trong triều đ́nh các thiên thần đều ngơ ngác và chẳng ai biết chuyện ǵ đă xẩy ra. Ngọc Hoàng liền sai thần mắt Thiên Lư Nhăn và thần tai Thuần Phong Nhĩ ra cữa trời xem và được biết đó là mắt cuả một con khỉ đá. Ngọc Hoàng bèn ra lệnh tiêu diệt ngay luồng nhăn khí làm choáng mắt đó, nhưng trong đám quần thần chẳng ai tiêu diệt nỗi.

Đến đoạn Ngộ Không chọc trời khuấy nước, xuống tận Long Vương nơi Đông Hăi để mượn khí giới. Sau khi thâu được cây Như Ư Kim Cô băng liền vào điện Sum La đánh đập Thần Chết, và buộc Diêm Vương phải đem sổ khai tử ra để xoá tên ḿnh. V́ vậy Diêm vương và vua Thủy tổ liền kiện lên Trời, xin Ngọc Hoàng phái quân nhà trời xuống đánh, nhưng khi quân nhà Trời bị thua, nên bó buộc phải nhận con khỉ đá với chức tước Tề thiên (ngang hàng với Trời). Đoạn Ngọc Hoàng ra lệnh xây nhà cho Ngộ Không ở luôn trên thiên cung với hy vọng dần dà triều đ́nh có thẻ đưa Ngộ Không rập vào khuôn phép cuả nhà Trời. Nhưng sự tính toán nầy chỉ uổng công, v́ Ngộ Không nhờ có dịp ở thiên giới, nên đă ăn trộm được bàn đào cuả Tây vương mẫu, uống cạn rượu tiên và ăn luôn cả thuốc trường sinh cuả Lăo tử. Và cuối cùng c̣n đ̣i Ngọc Hoàng nhường chức cho ḿnh. Sợ mất chức, Ngọc Hoàng nhờ đến Lăo quân dùng phép bắt Ngộ Không bỏ vào ḷ Bát quái nấu cho rục xương, nhưng sau 49 ngày trong ḷ, Tề Thiên vẫn chỉ đơ đôi mắt v́ quá nhiều khói. Vừa mở nắp Ngộ Không cứ nằng nặc đ̣i chiếc ghế cuả Ngọc Hoàng cho bằng được. Túng quá, Ngọc Hoàng phăi đến cậy nhờ Phật Tổ bày mưu đánh lừa đè Ngộ Không dưới núi Ngũ Hành những mải năm trăm năm, đợi khi Tam Tạng đi thĩnh kinh ghé qua gở buà cho quy y để theo hộ vệ suốt đường đi đến Tây trúc.

Phải nhận rằng danh hiệu Tề Thiên ăn khớp với mọi tác hành lớn lao có tầm mức vũ trụ. Chính Tề Thiên đă từng nói : « Tai bên tă ta nghe được những chuyện ở trên Trời, tai bên hữu ta nghe được những chuyện ở dưới Đất». Ngộ Không cũng đă có lần nói với Tam Tạng : « Việc lấp bễ vá trời tôi c̣n làm được, huống chi là hú gió cầu mưa». Có lần Sa Tăng hỏi đường lên Tây bộ c̣n bao xa, th́ Tề Thiên trả lời : « Đường đi từ Tây bộ đến Đông bộ cách xa mười muôn tám ngán dặm, nay đi mười phần mới được một ». Bát Giới liền hỏi : « Biết đi mấy năm cho tới ? » th́ Tôn hành Giả trả lời : « Nếu như hai em th́ đi chừng 10 ngày. Ta th́ trong một ngày vừa đi vừa về 50 lần. C̣n như Sư phụ th́ ôi thôi hết trông hết đợi ». Nghe vậy Tam Tạng liền cật vấn : « Ngộ Không ngươi nói ta đi mấy mươi năm mới tới ?» thi Tề Thiên liền thưa : « Thầy đi từ nhỏ tới già rồi trẻ lại đi nữa, cứ thế phải mất ngàn kiếp chưa chắc đă đến Tây phương, nhưng ḷng thành th́ ngó thấy Tây phương cũng gần ».

Vấn đề đặt ra là « đă bằng Trời » (Tề Thiên) th́ v́ sao lại có cảnh Trời Phật thựng cầm giử tiếp cận Ngộ Không? Thưa v́ Tề Thiên chưa nhận ra được triết lư « vạn vật nhất thể », ḿnh phải biết « hoà hợp với Trời », ḿnh là con cuả Trời, ḿnh là một tiểu Thượng đế nên phải xuống trần gian để dạy con người học bài tiến hoá. Nhưng rồi Tề Thiên đă mê trần, nhiễm trần, học đ̣i trần tục khai thác chân lư theo chiều sân hận, theo kiểu vô minh, để cố ăn thua với Trời. Những lỗi lầm cuả Tề Thiên là lời cảnh cáo gửi tới các vị tu hành lănh đạo các tôn giáo chớ bao giờ kiêu ngạo, phải nhớ đường tu c̣n dài, và luôn luôn phải kiên tŕ khiêm tốn (sympathie). Ngay Ngọc Hoàng cũng c̣n đầy giới hạn. Quả thật thái độ cuả Ngọc Hoàng như mắng Trời chưởi Phật, trách Lăo quân là ngang tàng. Có lần Tề Thiên đă dám bảo bà Quan Âm là nham hiểm : « Đă hứa đi hứa lại là sẻ bảo trợ cho Thầy tṛ trên đường đi thĩnh kinh, vậy mà có lần xúi bẩy yêu ma làm hại chúng ta, lời nói như vậy tin sao được. Chả trách suốt đời chỉ là một gái ngỗng chổng mông gào chồng » (hồi 35) No wonder she will remain a spinster all her life, băn dịch cuả C.T.Hsia trong The Classic Chinese Novel trang 136). Không bằng Trời (tề thiên) th́ làm sao dám đưa lời dạy dỗ kẻ khác như vậy ?

B. Dụng thể danh xưng Đại Thánh.

Theo đồng văn lớn cuả Việt Nho th́ Đại thánh có nghỉa là Đại thành, tức là thành nhân (grand sage), là Tác nhân, là Tác giă, là con người biết tự chủ mọi hành động cuả ḿnh. Nếu quan sát tŕnh sữ loài người, ta thấy tất cả mọi thứ đều do con người làm ra cả. Con người làm để thành nhân, gọi là triết nhân, (sage), là thánh. Cho nên Thánh tức là Thành. Chỉ có minh triết (Wisdom) mới giúp con người trở nên Chí Thánh. Điều càng chú ư là chữ Thánh ở đây không phải là chữ Thánh theo nghỉa cuả tôn giáo. Chữ Thánh cuả Tôn giáo bất tử về thời gian biệt lập, không có không gian đi kèm, nên không có tánh cách vũ trụ, tức là lớn lao như Trời và Đất. Chữ Thánh trong tôn giáo là Hữu thể (un corps existant), tức là chỉ có Tiểu ngă, chứ không dụng ư như Thần vô thức, tức là không có Đại ngă. Nói khác, Thánh không thể mang mẫu ư thức bằng Trời, nên không thể nào trở nên Đại Thánh cả. Đại Thánh là phải biết thâu hoá chứ không được kềm kẹp hủy diệt (la sagesse incorpore au lieu de détruire). Những người theo lối tu hành thánh giáo tiêu cực như Ngài Tam tạng cho rằng muốn « cứu hồn phải cho teo xác lại », mà không hiểu rằng khi « xác càng teo th́ hồn càng pḥng lớn ». V́ vậy nên đă bày ra đủ thứ cấm kỵ như ăn chay, kiêng cử đàn bà. Trái với Tề Thiên Đại Thánh tu thân theo lối « mậu thân », tức là làm cho tươi tốt bề ngoài Tiẻu ngă, và luôn cả bề trong Đại ngă.

Ngộ Không đă thực hiện được ṿng ngoài Tiểu ngă, khi dám nhảy xuống biễn làm vua, tự xưng là Mỷ Hầu Vương, nhưng ṿng trong Đại ngă th́ ra sao ? Ngộ Không phải đạt tới trường sinh bất tủ. Điều nầy bắt Đại Thánh phả bỏ Thủy liêm động để đi t́m Tổ sư (grand master) làm thầy dẫn đường đến Chí Thánh hầu đạt cho được Đại ngă. Thế rồi Tề Thiên lặn suối trèo non, cố vượt qua hai đại dương đến nhiều động Tiên và cữa Phăt cố t́m Thầy, nhưng than ôi đi măi mà chỉ gặp toàn bọn đồ danh mưu lợi không hề biết Đạo là ǵ ? (hồi 16). Mải sau 9 năm trời ṛng rả mới t́m ra được Thầy ở núi Linh đài Phương thôn, tức là Tâm đạo Vô vi, vượt qua khỏi Hữu vi sắc tướng. Tại đây Thầy thấy Ngộ Không có khiếu thông minh vượt bực, liền kê ra các môn cao học cho Tề Thiên tự lựa chọn. Nhưng Tề Thiên chỉ xin học môn nào cho phép ḿnh được sánh cùng Trời và Đất. Tổ sư kể rất nhiều phép lạ, nhưng Ngộ Không đều từ chối, cuối cùng đến phép lạ đạo Tiên gồm có 36 phép thiên can và 72 phép địa sát, th́ Ngộ Không liền xin học 72 phép cuối cùng nầy. Ṛng ră suốt 4 năm, Ngộ Không đă luyện tập phép mầu thông thạo. Quả thật « Tổ Sư mong được người học tṛ phi phàm tuyệt thế » (hồi 29) . Nhờ vậy mà trong cuộc hành tŕnh lâu dài Ngộ Không thường chiến đấu với đủ loại yêu ma bằng cách khi biến thành con ve, khi thành con chim, khi thành con kiến, khi hoá ra hàng trăm Ngộ Không khác. Ngay cả lúc bị Lăo Tổ bắt nung trong ḷ Bát Quái 49 ngày vẫn không chết mà cứ khư khư đ̣i Ngọc Hoàng nhường ngôi, cho nên Thích Ca cười và bảo : « Chẳng qua người chỉ là một con khỉ đột thành tinh sao dám lớn mộng cướp ngôi Trời. V́ Thượng Đế tu đến một ngàn năm trăm năm chục kiếp, mổi kiếp có nhiều vạn năm, c̣n ngươi tu luyện bao nhiêu lâu mà dám dành ngôi báu ? » Tề Thiên vẫn ngang nhiên nói : « Đi tu nhiều để rồi làm vua cho được lâu sao ? Hể thiên địa tuần hoàn th́ ngôi báu cũng phải thay đổi. Ngươi mau bảo Hoàng Đế nhường ngôi, bằng không th́ ta phá nát cả thiên cung ». Việc đ̣i hỏi cuả Tề Thiên nói lên cái triết lư Tác hành, lúc nào cũng tôn trọng sự biến động như trong triết lư Kinh Dịch cuả Việt tộc. Quả thật là tuyệt tác !

C. Dụng thể danh xưng Ngộ Không.

Đây là cái tên mà vị Tổ sư đặt cho Tề thiên và được Ngộ Không luôn luôn nắm giử. Sau nầy Tam Tạng đă nhiều lần muốn đặt tên là Tôn hành Giả đều bị Ngộ Không từ chối, viện cớ rằng đă có tên rồi. Thực ra chữ Hành Giả chỉ quảng diển ở tầng tác động (mouvement), c̣n chữ tác hành (agir) đă nằm sẳn trong Đại Thánh. Nay muốn ngang bằng Trời th́ trong danh xưng tên đă có chữ Không làm phương tiện đúng như trong triết lư đặc trưng cuả nền triết lư Đông phương Việt Nho và Ấn độ. Vậy thế nào là Không trong triết lư phương Đông?

Ấn độ hiểu chữ Không ở cấp siêu h́nh, đó là cái Không Không (neti neti), mà nhà Phật diễn giải bằng Thái hư, Tàu diễn là Sắc sắc Không không. tất cả đều thuộc về sự vật. Đó là cái "vô thể” đối diện với cái "hữu thể”, cái ontologie trong siêu h́nh nơi người Tây phương. Cái hữu thể nầy đặc sệt hữu vi tính, nên được liệu lư bằng những nguyên lư cuả sự vật im ĺm bất động, tức là nguyên lư đồng nhất A bằng A. Đây là vô t́nh giam giử triết học nhân sinh nằm lại trong cái bầy nhầy tai hại.

Triết Ấn độ chối bỏ Hữu vi để đặt cước trên Vô thể, nhưng lại vấp phải cái Vô thể giă hiệu (le néant trompeur), bởi lẻ khi cho rằng đó là Vô thể trung thực, tức đó là Chân không, mà Chân không th́ sẻ Diệu hữu, nhưng đây lại không có Diệu hữu, nên buộc ta phải kết luận là cái Không đă thiếu chân thực, tức là cái Không giả tạo, nó đă nằm cùng b́nh diện với cái Có, nó thành cái Không đối kháng, tức là cái Không Có ở ngay trong cái h́nh danh sắc tướng giống y chang như cái Có vậy. (không-không A, non-non A).

Triết lư tánh Không cuả Phật giáo là Thái Hư, nhưng trong thực tế toàn là tụng kinh hữu tự, kinh theo sách vở đă chép ra, ê a chuông mơ, nghi lễ rành rang, th́ linh hồn bị tŕ kéo xuống c̣n ǵ!. Bám vào cái có trước mắt để diễn tă cái không có, chi bằng đừng nên diễn tả cho sự vật được hiểu như là vậy. V́ thế cái Không cuả Phật giáo cũng giả tạo, không thể giải thoát linh hồn tiêu diêu nơi cực lạc tây phương được. Tam Tạng là biểu hiệu cuả nhá Phật, tức là cuả Thái Hư, nhưng đi đâu Tam Tạng cũng cố giử chiếc ṿng Kim cô cuả bà Quan âm để treo lên đầu Ngộ Không cho dể sai khiến, có nghỉa Phật giáo cuả Như Lai đă bám vào cái hữu h́nh để cưởng hành (forcer), giam hăm con người nằm mải trong cỏi hiện tượng (univers existant), không bao giờ siêu thoát được. (Nhắc lại vụ Ngộ Không cho đái vào các b́nh rượu là hành động đă phá những ư niệm nầy).

Đă giải thoát được tâm hồn, tức là đă đạt tới cứu cánh hạnh phúc con người, th́ nhân loại buộc phải có một triết lư nào đó để khoả lấp cái hố sâu giữa hai nền Triết lư Hữu Vi và Vô vi. Chính là triết lư An Vi mới làm được công việc đó. Lúc đó, con người Vô vi không hiểu theo kiểu siêu h́nh cuả Hữu thể học cuả Tây phương, nhưng hiểu là Hư Tâm, nói theo Đạo Trống cuả Việt tộc là làm cho Tâm hồn trống rỗng. Có như thế, lúc đó tâm hồn con người không bị cản trở bởi những mệnh lệnh hữu vi và từ đây cái tánh băn nhiên con người (Linh thể) được phát ra cách trong sáng. Ví như con đường cuả Ngộ Không bị cản trở bởi yêu ma đủ loại phát xuất từ Đất, từ Trời, từ Tiên, từ Phật, đă ngăn cản hai thầy tṛ không đến được núi thánh Linh Sơn. Trong thực tế, những yêu ma đó là những câu chấp, những thành kiến bé nhỏ, những tư kiến tư dục. Nói khác, đó là hai chướng ngại thuộc loại bái vật (tâm) và ư hệ (lư) mà con người có thể tránh được, khi con người biết thế nào là an vi.

D. Dụng thể xuất xứ nhân vật

D.1. Với xuất xứ Ngộ Không.

Nhiều người đọc Tây du kư rắt thích Tôn Ngộ Không, nhưng đôi khi trách Ngộ Không tánh khí quá ngang tàng. Người khác thi vui cười và coi đó là lối trào phúng vui nhôn, chứ chẳng cần để tâm đến các điều tàng ẫn bên trong. Thực ra cái ngông cuả Ngộ Không khá đặc biệt mà xưa nay ít ai để tâm xét tới. Để thấy điều đó, chúng ta sẻ lầ lượt xét qua nơi địa bàn xuát xứ và cung cách phát xuất các tác động cuả nhân vật Tề Thiên trong truyện.

Trước hết, Ngộ Không xuất xứ ở biễn Đông trong nước Ao Lai. Mà chữ Lai có nghỉa là Lạc, có liên hệ đại tộc trong huyền sữ như Di Lai, Di Việt, Lạc Việt. V́ vậy nên nói Ao Lai cũng là cách diễn tă Ao Lạc, hay Ao Việt, hay Việt Tŕ, đều nằm trong miền có đăo gọi là Bồng Lai. Ngộ Không xưng vương ở Thủy Liêm động chẳng khác nào như Lạc Long quân ở dưới Thủy phũ. Ngộ Không c̣n là lân bang với Long Vương, nơi Lăo Tôn mượn được cây Kim cô thiết bảng, mà Long Vương và Lạc Long quân đều cùng mang họ Long trong huyết tộc Việt.

C̣n xét về cung cách xuất hiện th́ Ngộ Không chẳng khác nào ông Bàn Cỗ thủy tổ cơ sở cuả Việt tộc. Cả hai đều độc lập, không cha không mẹ. Ngộ Không do tụ khí đá trời đất sinh ra , c̣n Bàn Cỗ th́ có câu: "Hỗn mang chi sơ, vị thân thiên địa, Bàn Cỗ thủ xuất, thủy phân âm dương”. Cả hai đều tự cường tự lực, đến nỗi việc sinh ra cũng như tự sinh, đến lúc đi học th́ chuyên chú về Trời Đất âm dương. Đặc biệt cái tinh hoa đươc kết đúc theo cơ cấu gọi là Huỳnh Đ́nh, như trong câu "Gặp tiên thỏ thẻ đôi lời, Đâu nơi cực lạc đâu nơi Huỳnh Đ́nh (hồi 1).

Chữ Đ́nh đây cùng một nghỉa với Động Đ́nh Hồ, chỉ cái Nhà hay cái Động rỗng. C̣n Hùynh là do chữ Hoàng đọc chại đi, có nghỉa là trống rỗng như trong cung Ngũ Hành, c̣n gọi là Ngũ Hoàng Cực, nên Huỳnh Đ́nh có nghiả là Nhà Rỗng, v́ nó nằm ở hành ngũ có tên là Huỳnh Vô Địa, tức²là trống rỗng chẳng có đất đai. Từ đây suy ra có liên hệ đến máu mũ hàng dọc với chiếc Trống Đồng ở chỗ Trống và Rỗng. Ông thầy dạy Ngộ Không tự xưng là "câu bồ đề”, mà hai chữ "bồ đề là ngộ”, và "câu là tất cả”, có ư nói là vị sư tổ hiểu hết tất cả đức Trời và đức Đất.

Trong Lăo Tôn đức Đất được biểu thị bằng cây Kim Cô Băng rút ra từ ḷng biễn Đông, c̣n đức Trời là được ăn uống những thứ qúy nhất trên thiên đ́nh, như bàn đào, kim đan với thuốc trường sinh bất tữ, cho đến khi cần th́ có quyền bắt Trời nhường ngôi. Việc nầy chẳng khác nào như ông Bàn Cỗ tự tay sắp đặt cả Trời Đất.

Ngộ Không đă từng trách Phật tổ lẫn Lăo quân và giết chết biết bao ma qũy, chẳng khác nào như Lạc Long quân đă giết hồ tinh, ngư tinh, mộc tinh. Ngộ Không c̣n tỏ ra ḿnh là anh em với Hùng Vương, v́ cũng có sách ước 72 phép thần thông biến hoá và chiếc gậy thần Kim Cô Băng dũ sức vươn lên tận Trời hoặc rút nhỏ lại bằng chiếc kim. Cả 2 Sách ước và Gậy thần đều phát xuất ở kinh Dịch, một cuốn kinh duy nhất không chữ viết gọi là Kinh Vô Tự (bible sans écriture) trên cỏi trần tục nầy.

V́ những lư do đó, chúng ta thấy Ngộ Không chẳng khác ǵ hơn là Hồn Triết gia, da cuă Ông Trường (khỉ sống lâu gọi là ông Trường). Đây là con cháu cuả những ông chống Trời được diễn giăi trong một số nhân thoại mà dân gian thường nhắc tới như các tên Bàn Cỗ, Toại Nhân, Phục Hy, Nữ Oa, Lạc Long Quân, Hùng Vương, Tăn Viên, Thánh Giống. Đó là những mẫu người có số kiếp xuất hiện Không Cha Không Mẹ Không Trời Không Đất, hàm chứa những việc có tầm mức lớn lao như vũ trụ.

D.2. Với xuất xứ tác giả.

Nay thử xét sơ qua xuất xứ tác giả Tây du kư th́ biết rằng Ngô thừa Ân là người ở đất Giang Tô, nằm trong nước Ngô, đời Chiến quốc bị Việt Câu Tiễn cho sát nhập vào với Việt Chiết Giang. Mà Việt Chiết Giang là một măng đất c̣n sót lại từ miền mênh mong cuả Việt tộc khởi từ vùng Bộc Hăi của Bách Bộc,một tên gọi cuả Bách Việt,bao lấy Sơn Động và Châu Tô, nơi có núi Đồ Sơn, quê hương cuả Nữ Oa, và bà vợ Việt cuả ông Đôi Vũ, rồi duổi chân vào Động Đ́nh Hồ, Kiến phúc cho tới Quảng đông, Quảng tây, Việt nam ngày nay. Dăy đất mênh mang đó đă săn xuất ra một nền triết lư được vạch sẳn trên Trống Đồng cuả Việt tộc, một nền triết lư Ngông, biết chông cả Trời lên mà thở.

Nhưng tại sao "Ngông” là một triết lư? Và "Ngông” đem lại cho dân tộc một ơn ích nào? Theo Kim Định th́ cho rằng cứu cánh con người là đạt được đợt Ngộ Không th́ mới thấy hạnh phúc, tức là giác ngộ được cái "Không Chân Thực” v́ đó là con đường dẫn đến "Diệu hữu”, mà dấu chấm phá hiện ra bên ngoài là sự hạnh phúc cuả Tiểu ngă, c̣n cái khả năng Ngông bên trong là Đại ngă. Nói khác, cái Ngông là ánh linh quang trong tâm hồn con ngựi có sứ mạng phải làm cho sáng tỏ để nó chiếu giải ra, lan rộng ra măi măi hầu mở một chân trời cho tâm thức nh́n ra được những chân lư phi thường.

Những hữu diệu cuả Trời Đất chỉ hội tụ ở Chân Không tạo nên băn chất cuả con người đại ngă tâm linh, vô sắc vô tướng, chẳng khác nào như Kinh Vô Tự mà Việt lư gọi là Ba Hồi Trống Thu Không, một hành động ẫn dụ trong cử chỉ cuả vị Sư Tổ khi chỉ muốn dạy cho một ḿnh Tề Th́ên phép tắc bằng cách: " gơ đầu Ngộ Không 3 cái, chắp hai tay sau đít, quay vào pḥng đóng cữa lại (hồi 2)” và chỉ có Ngộ Không mới hiểu cử chỉ cuả Thầy dặn rằng đến canh ba, hảy lẽn vào cữa sau, rối vào trong pḥng cuả thầy để thầy truyền phép. Đó là cái Học Vô Tự Ngôn cao nhất, bài học không biểu lộ bằng lời nói mà chỉ nằm trong 4 loại học gọi là Thuật, Lưu, Kinh, Động. Ây chính là cái triết lư Ngông cuả Ngộ Không, là sơ nguyên tượng cuả nền triết lư Việt Nho, mục đích nhằm căi đỗi văn hoá Phật giáo trong những bước cuối cùng và tế vi nhất. Nhờ cái Ngông đó con người mới vượt ra khỏi những loại kinh hữu tự, đêm ngày chỉ nh́n theo khuôn rập trong chữ có sẳn. Có như vậy, con người mới có thể bước vào loại kinh vô tự, tư duy trôi chảy, vượt giai đoạn tĩnh thiền (ngồi một chỗ) sang gia đoạn hành thiền (đi lại tự do), con người vượt giai đoạn bi quan tiêu cực để đến giai đoạn dấn thân vào đời cách an vui hí lộng.

Nếu bảo rằng sữ tŕnh văn hoá loài người là chống lại những quan niệm sai lầm về thần linh có tính cách làm ngảng trở sự tiến hoá con người đoàn lũ, th́ triết lư trong Kinh Vô tự mà người chuyên viên Kim Định đă thấy trong Tây du kư cuả Ngô thừa Ân là nền triết lư quyết định vận mệnh con người qua ba chặng đường Bái vật, Ư hệ và Tâm linh. Hôm nay Kim Định đang cỗ vơ chúng ta nên đọc loại kinh vô tự để tự giải phóng cho ḿnh.

Việc phân tích trong 3 phần cuả Kinh Vô Tự có liên hệ mật thiết với triết lư Việt Nho trong kinh Dịch là để hiểu rằng con người chúng ta có một địa vị trong trời đất, và không nên đánh mất địa vị vị đó. Con người nói chung là Tề Thiên, Tề Địa như trong học thuyết Tam Tài từng nói lên cái b́nh đẳng Thiên-Địa-Nhân. Nhưng đây là phần triết lư đă có lời giải, đă có ấn phẩm chứng minh cuả Lương kim Định trong tủ sách triết lư An Vi (tủ sách An việt- Houston) nói về con người toàn diện. Việc đó người viết xin nhường lại trong dịp khác.

Lê Hùng , Bruxelles
__________________
http://img.photobucket.com/albums/v727/ttl/avatar/TTL3c.jpg
Reply With Quote
Reply

Thread Tools

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off

Forum Jump


All times are GMT -7. The time now is 08:59 PM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.7
Copyright ©2000 - 2017, vBulletin Solutions, Inc.
Người Việt Năm Châu